top of page

Khi nào Nhà nước được thu hồi đất? Tiếp cận từ các căn cứ pháp lý của Luật Đất đai năm 2024.

  • Ảnh của tác giả: Barrisco Hãng luật
    Barrisco Hãng luật
  • 5 ngày trước
  • 10 phút đọc

Khi nào Nhà nước được thu hồi đất?

Tiếp cận từ các căn cứ pháp lý của Luật Đất đai năm 2024

1. Đặt vấn đề:

Thu hồi đất là một trong những chế định quan trọng và nhạy cảm nhất của pháp luật đất đai. Hoạt động này tác động trực tiếp đến quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, nơi cư trú, sinh kế và lợi ích kinh tế của người sử dụng đất.

Theo pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa Nhà nước có thể tùy nghi chấm dứt quyền sử dụng đất của cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức. Quyền sử dụng đất hợp pháp vẫn được pháp luật công nhận, bảo hộ và chỉ có thể bị thu hồi trên cơ sở những căn cứ, điều kiện, thẩm quyền và trình tự do luật định.

Luật Đất đai năm 2024 xác lập bốn nhóm căn cứ cơ bản để Nhà nước thu hồi đất, bao gồm: thu hồi vì mục đích quốc phòng, an ninh; thu hồi để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi do vi phạm pháp luật đất đai; và thu hồi do chấm dứt việc sử dụng đất, tự nguyện trả lại đất hoặc đất không còn khả năng sử dụng an toàn.

2. Khái niệm và bản chất pháp lý của việc Nhà nước thu hồi đất:

Thu hồi đất có thể được hiểu là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định nhằm chấm dứt quyền sử dụng đất của người sử dụng đất hoặc chấm dứt việc quản lý đất của chủ thể được Nhà nước giao quản lý.

Về bản chất, thu hồi đất là một quyết định hành chính đơn phương, mang tính quyền lực nhà nước. Quyết định này làm thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai đang tồn tại. Vì vậy, tính hợp pháp của việc thu hồi đất phải được xem xét trên cả phương diện nội dung và hình thức.

Về nội dung, việc thu hồi phải dựa trên một căn cứ được Luật Đất đai quy định. Về hình thức, quyết định phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục; đồng thời phải bảo đảm quyền được thông tin, tham gia ý kiến, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, khiếu nại và khởi kiện của người có đất bị thu hồi.

Có thể khái quát nguyên tắc pháp lý của chế định này như sau: Nhà nước không được thu hồi đất chỉ dựa trên nhu cầu quản lý hoặc mục tiêu phát triển nói chung, mà phải chứng minh việc thu hồi thuộc đúng trường hợp luật định và đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp lý tương ứng.

3. Các trường hợp Nhà nước được thu hồi đất:

3.1. Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh

Điều 78 Luật Đất đai năm 2024 quy định các trường hợp Nhà nước thu hồi đất nhằm phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Đây là nhóm thu hồi xuất phát từ yêu cầu bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Đất có thể được thu hồi để xây dựng căn cứ quân sự, công trình phòng thủ, doanh trại, cơ sở huấn luyện, công trình chuyên dùng, cơ sở giam giữ hoặc các công trình khác trực tiếp phục vụ lực lượng vũ trang.

Mặc dù mục đích quốc phòng, an ninh mang tính ưu tiên đặc biệt, cơ quan nhà nước vẫn phải tuân thủ các căn cứ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và thẩm quyền quyết định. Trong những trường hợp chưa được thể hiện trong quy hoạch có liên quan, việc thu hồi chỉ được tiến hành khi có sự xem xét, chấp thuận của chủ thể có thẩm quyền theo luật.

Như vậy, việc viện dẫn mục tiêu quốc phòng, an ninh không phải là căn cứ mang tính khái quát để thu hồi mọi loại đất. Mục đích sử dụng sau thu hồi phải có mối liên hệ trực tiếp, thực chất với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

3.2. Thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Điều 79 Luật Đất đai năm 2024 quy định các trường hợp thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Nhóm này thường bao gồm các dự án xây dựng công trình giao thông, thủy lợi, năng lượng, cấp thoát nước, xử lý chất thải, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, công viên, quảng trường, nhà ở xã hội, nhà ở tái định cư, cải tạo chung cư và một số dự án thuộc danh mục cụ thể do luật quy định.

Điểm cần đặc biệt lưu ý là không phải mọi dự án có yếu tố phát triển kinh tế đều thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất. Việc một dự án tạo ra nguồn thu, việc làm hoặc đóng góp ngân sách chưa đủ để khẳng định dự án đó phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng theo nghĩa pháp lý.

Đối với những dự án sản xuất, kinh doanh thuần túy không thuộc Điều 79, việc tiếp cận đất đai về nguyên tắc phải được thực hiện thông qua cơ chế dân sự, chẳng hạn thỏa thuận nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Sự phân định này có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn ngừa khả năng sử dụng quyền lực hành chính để chuyển giao đất từ người dân sang chủ thể kinh doanh tư nhân mà không có căn cứ luật định.

Bởi vậy, khi đánh giá tính hợp pháp của một quyết định thu hồi đất phục vụ dự án, cần xác định chính xác dự án thuộc trường hợp nào của Điều 79, cơ quan nào đã quyết định hoặc chấp thuận dự án và dự án đã đáp ứng các điều kiện về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hay chưa.

3.3. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai

Điều 81 Luật Đất đai năm 2024 quy định việc thu hồi đất khi người sử dụng đất có hành vi vi phạm pháp luật.

Các hành vi điển hình bao gồm sử dụng đất không đúng mục đích; hủy hoại đất; lấn đất, chiếm đất; không thực hiện nghĩa vụ tài chính; được giao hoặc cho thuê đất không đúng đối tượng, không đúng thẩm quyền; hoặc không đưa đất vào sử dụng, để dự án chậm tiến độ quá thời hạn luật định.

Đây là biện pháp pháp lý có tính chất bất lợi nghiêm trọng đối với người sử dụng đất. Vì vậy, việc thu hồi không được chỉ dựa trên nhận định chủ quan của cơ quan quản lý. Hành vi vi phạm phải được xác định thông qua hồ sơ, biên bản, quyết định xử phạt hoặc văn bản của cơ quan có thẩm quyền theo đúng trình tự pháp luật.

Đối với một số hành vi, chẳng hạn sử dụng đất sai mục đích hoặc hủy hoại đất, Luật Đất đai đặt ra điều kiện người sử dụng đất đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn tiếp tục vi phạm. Điều này cho thấy thu hồi đất không phải lúc nào cũng là biện pháp được áp dụng ngay từ lần vi phạm đầu tiên.

Đối với đất thực hiện dự án đầu tư, pháp luật quy định thời hạn đưa đất vào sử dụng và cơ chế gia hạn nhất định. Chỉ khi hết thời hạn, kể cả thời gian được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn không đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước mới xem xét thu hồi theo quy định.

Về hậu quả, đất bị thu hồi do vi phạm pháp luật nhìn chung không được bồi thường về đất. Đây là điểm khác biệt căn bản so với trường hợp thu hồi vì quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, công cộng.

3.4. Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng, tự nguyện trả lại hoặc không còn khả năng tiếp tục sử dụng

Điều 82 Luật Đất đai năm 2024 điều chỉnh một nhóm trường hợp có tính chất tương đối đa dạng.

Thứ nhất, quyền sử dụng đất có thể chấm dứt theo pháp luật, ví dụ tổ chức được giao đất bị giải thể, phá sản hoặc chấm dứt hoạt động; cá nhân chết mà không có người thừa kế; đất được giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn; hoặc dự án đầu tư bị chấm dứt.

Thứ hai, người sử dụng đất có thể tự nguyện trả lại đất khi giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng.

Thứ ba, Nhà nước có thể thu hồi đất khi việc tiếp tục sử dụng gây nguy hiểm hoặc không còn khả thi, chẳng hạn đất ở trong khu vực ô nhiễm có nguy cơ đe dọa tính mạng, đất bị sạt lở, sụt lún hoặc chịu ảnh hưởng bởi thiên tai đến mức không còn khả năng sử dụng theo mục đích đã xác định.

Không phải mọi trường hợp thuộc Điều 82 đều có cùng chế độ bồi thường. Quyền lợi của người sử dụng đất phải được xác định dựa trên nguyên nhân thu hồi, nguồn gốc đất, hình thức giao hoặc cho thuê đất, việc thực hiện nghĩa vụ tài chính và điều kiện được bồi thường.

(Ảnh minh họa)

4. Điều kiện bảo đảm tính hợp pháp của việc thu hồi đất:

Một quyết định thu hồi đất chỉ hợp pháp khi đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau:

4.1. Có căn cứ thu hồi cụ thể

Cơ quan nhà nước phải xác định chính xác việc thu hồi thuộc Điều 78, 79, 81 hay 82 Luật Đất đai năm 2024. Việc viện dẫn chung chung rằng đất thuộc quy hoạch hoặc phục vụ phát triển kinh tế – xã hội chưa đủ làm phát sinh quyền thu hồi.

“Đất nằm trong quy hoạch” và “đất đủ điều kiện bị thu hồi” là hai vấn đề pháp lý khác nhau. Quy hoạch thể hiện định hướng sử dụng đất, trong khi thu hồi đất phải gắn với căn cứ, dự án và trình tự cụ thể.

4.2. Đúng thẩm quyền

Quyết định thu hồi đất phải do cơ quan hoặc người có thẩm quyền ban hành theo pháp luật hiện hành. Nếu quyết định được ban hành sai thẩm quyền thì có thể bị khiếu nại, khởi kiện và xem xét hủy bỏ, kể cả khi mục đích thu hồi phù hợp với quy định.

4.3. Đúng trình tự, thủ tục

Quy trình thu hồi phải bảo đảm các bước cần thiết như thông báo thu hồi, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, lập phương án bồi thường, lấy ý kiến, công khai phương án, phê duyệt và tổ chức chi trả.

Đối với thu hồi vì quốc phòng, an ninh hoặc phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, thông báo thu hồi đất phải được gửi trước ít nhất 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp.

4.4. Bảo đảm quyền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Khi người sử dụng đất đáp ứng điều kiện được bồi thường, Nhà nước phải xác định đầy đủ giá trị quyền sử dụng đất và thiệt hại đối với tài sản hợp pháp gắn liền với đất.

Tùy từng trường hợp, người có đất thu hồi còn có thể được hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp. Nếu thu hồi đất ở khiến người dân phải di chuyển chỗ ở thì phải xem xét bố trí tái định cư theo quy định.

Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không phải là sự hỗ trợ mang tính thiện chí của cơ quan nhà nước mà là nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ việc thu hồi đất hợp pháp.

5. Quyền bảo vệ lợi ích của người có đất bị thu hồi:

Khi nhận được thông báo hoặc quyết định thu hồi đất, người sử dụng đất có quyền yêu cầu cung cấp và kiểm tra các tài liệu liên quan đến:

  • Căn cứ pháp lý của dự án;

  • Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

  • Quyết định hoặc văn bản chấp thuận dự án;

  • Thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi;

  • Hồ sơ đo đạc, kiểm đếm;

  • Nguồn gốc và loại đất;

  • Giá đất cụ thể;

  • Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Nếu cho rằng quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường hoặc hành vi của cơ quan nhà nước trái pháp luật, người sử dụng đất có quyền khiếu nại theo thủ tục hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền.

Tuy nhiên, việc khiếu nại hoặc khởi kiện không đương nhiên làm đình chỉ thi hành quyết định thu hồi đất. Vì vậy, trong trường hợp cần thiết, người khởi kiện có thể đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu đáp ứng các điều kiện pháp luật tố tụng hành chính.

6. Kết luận:

Thu hồi đất là sự can thiệp trực tiếp của quyền lực nhà nước vào quyền sử dụng đất hợp pháp của cá nhân, hộ gia đình và tổ chức. Do đó, hoạt động này phải được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nguyên tắc pháp quyền.

Theo Luật Đất đai năm 2024, Nhà nước chỉ được thu hồi đất trong bốn nhóm trường hợp: phục vụ quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; xử lý vi phạm pháp luật đất đai; và chấm dứt việc sử dụng đất, tự nguyện trả lại hoặc đất không còn khả năng sử dụng an toàn.

Tính hợp pháp của việc thu hồi không chỉ phụ thuộc vào mục đích thu hồi mà còn phụ thuộc vào căn cứ cụ thể, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và việc bảo đảm quyền lợi của người có đất bị thu hồi. Vì vậy, trong một vụ việc cụ thể, cần đánh giá toàn diện hồ sơ pháp lý thay vì chỉ dựa vào thông báo rằng đất đã nằm trong quy hoạch.

Nếu bạn đang gặp vướng mắc về việc nhà nước thu hồi đất, các chính sách hỗ trợ, bồi thường cho người dân khi thu hồi đất, hãy liên hệ chúng tôi, việc tham khảo ý kiến luật sư ngay từ giai đoạn đầu sẽ giúp xác định đúng hướng xử lý, chuẩn bị hồ sơ đầy đủ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp với quy định của pháp luật.

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

CÔNG TY LUẬT TNHH BARRISCO

Trụ sở chính: Liền kề 88 ngõ 6 phố Nguyễn Văn Lộc, phường Hà Đông, Thành phố Hà Nội

Hotline: 0822.689.333 (LS. Nguyễn Như Hoàng)


Bình luận


​Bài viết liên quan

zalo

Giải đáp

​Văn phòng Hà Nội​​​

Địa chỉ: LK 88 Ngõ 6 phố Nguyễn Văn Lộc, Phường Hà Đông, thành phố Hà Nội

SĐT: 0822689333 - 0828129666 (LS. Hoàng)

Văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Phòng số 201, số 171 đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh

SĐT: 0857682666 (LS. Phương Linh)

Hãng Luật Barrisco Việt Nam

Văn phòng Hà Nội

LK 88 Ngõ 6 Phố Nguyễn Văn Lộc, Phường Hà Đông TP.Hà Nội

Văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

Phòng số 201, số 171 đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh

bottom of page