Hiện nay những hành vi vi phạm liên quan đến đất đai ngày càng phổ biến, để có căn cứ tư vấn cho khách hàng, đồng thời cũng là căn cứ để giải quyết vụ việc nếu khách có nhu cầu. Bài nghiên cứu này muốn giúp người đọc có thể hiểu rõ hơn về một trong những hành vi liên quan đến đất đai, cụ thể là hành vi lấn chiếm lối đi chung, các vấn đề pháp lý phát sinh và hướng hoàn thiện.
II. Các vấn đề pháp lý liên quan
1. Khái niệm thế nào là lối đi chung? Thế nào là lấn đất?
1.1. Khái niệm thế nào là lối đi chung
Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào quy định, hay giải thích cụ thể thế nào là lối đi chung. Trên thực tế, lối đi chung bao gồm:
+ Lối đi chung được mở từ đất sử dụng làm đường thuộc quyền quản lý của Nhà nước;
+ Lối đi chung được hình thành từ lối mòn, sử dụng lâu năm;
+ Lối đi chung được người sử dụng đất phía ngoài tự dành ra hoặc theo thỏa thuận hoặc chuyển nhượng cho người phía trong để có lối ra đường công cộng;
+ Lối đi chung do các chủ sử dụng đất cắt một phần đất của mình tạo nên, đồng thời lối đi chung tạo thành ranh giới sử dụng đất giữa các thửa đất liền kề (thường gọi là đường đi chung hoặc ngõ đi chung).
Khoản 31 điều 3 Luật đất đai 2024 quy định:
“Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép”.
Như vậy, lấn đất được hiểu là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới mục đích là nhằm mở rộng diện tích đất của mình khi chưa được CQNN hoặc chủ sử dụng diện tích bị lấn đó cho phép.
1.3. Quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn chiếm ngõ đi chung
Hiện nay, trên thực tế hành vi lấn chiếm lối đi chung xảy ra rất phổ biến, đặc biệt tại các vùng quê. Mặc dù xảy ra thường xuyên trên thực tế nhưng có rất ít trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính. Việc ít bị xử phạt trên thực tế khiến không ít người đặt ra câu hỏi liệu có chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn chiếm ngõ đi chung không?
Hành vi lấn đất, chiếm đất, là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại Điều 11 Luật đất 2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 13 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
1. Hành vi lấn đất hoặc chiếm đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước đã quản lý, được thể hiện trong hồ sơ địa chính thuộc địa giới hành chính của xã hoặc các văn bản giao đất để quản lý thì hình thức và mức xử phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích dưới 0,02 héc ta;
(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)
Như vậy, hành vi lấn, chiếm lối đi chung sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Căn cứ điểm b khoản 1 điều 30 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì chủ tịch UBND xã có thẩm quyền sử phạt đến 5.000.000 đồng.
Chính vì vậy, khi phát hiện hành vi lấn chiếm thì cá nhân có thể gửi đơn đề nghị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lấn chiếm lối đi chung đến Chủ tịch UBND nơi có hành vi vi phạm để UBND xã tiến hành xác minh, lập biên bản và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
III. Hướng giải quyết khi phát sinh tranh chấp lối đi chung
1. Tranh chấp lối đi chung mà có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất
Khoản 1 điều 236 Luật đất đai 2024 quy định:
“Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp hoặc một trong các bên tranh chấp có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án giải quyết.
Như vậy, việc tranh chấp lối đi chung mà có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu theo quy định thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Việc một trong các bên không xác định được thẩm quyền giải quyết trong trường hợp này dẫn đến việc tranh chấp không được giải quyết trái lại còn là nguyên nhân dẫn đến việc thời gian giải quyết tranh chấp kéo dài. Tuy nhiên tác giả bài viết này lại mong muốn các bên nếu được thì sẽ ngồi lại cùng nhau, lắng nghe nguyện vọng của nhau, từ đó tìm ra cách giải quyết mà đôi bên cùng hài lòng. Việc này sẽ giúp cho các bên giữ được tình làng, nghĩa xóm. Trong trường hợp các phát sinh tranh chấp về lối đi chung mà không hòa giải được thì cần gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có tranh chấp để tiến hành hòa giải.
Điều 235 và Điều 236 Luật đất đai năm 2024 khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải. Trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, thì các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất cụ thể là tranh chấp lối đi chung thì thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã là điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 điều 192 BLTTDS 2015 căn cứ Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP.
Trong trường hợp hòa giải tranh chấp đất đai không thành thì UBND sẽ lập biên bản hòa giải tranh chấp đất đai không thành. Khi tiến hành khởi kiện tại TAND có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp lối đi chung thì trong hồ sơ khởi kiện Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai không thành sẽ là một trong những giấy tờ không thể thiếu. Nếu thiếu thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 192 BLTTDS 2015.
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tòa án nhân dân khu vực nơi có BĐS căn cứ khoản 9, điều 26; điểm a khoản 1 điều 35; điểm c khoản 1 điều 39 BLTTDS 2015.
2. Tranh chấp lối đi chung mà không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất
Khoản 2 điều 236 Luật đất đai 2024 quy định:
“Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật này thì các bên tranh chấp được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.”
Cũng giống tranh chấp lối đi chung mà có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất. Tranh chấp lối đi chung mà không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất cũng có quyền khởi kiện tại TAND có thẩm quyền để giải quyết. Tuy nhiên đối loại tranh chấp này các nhà làm luật đã mở rộng hơn thẩm quyền giải quyết. Cụ thể, nếu các bên tranh chấp không muốn khởi kiện tại Tòa án thì có thể lựa chọn UBND cấp huyện để gửi đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai đến Chủ tịch UBND cấp huyện nơi có đất để giải quyết. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, các bên tranh chấp có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính hoặc khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực thi hành.
Để giảm thiểu tranh chấp lấn chiếm lối đi chung tác giả đề xuất một số hướng sau
1. Cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, thúc đẩy số hóa việc quản lý đất đai;
2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến quần chúng nhân dân để nhân dân nâng cao nhận thức về việc tuân thủ pháp luật
2. Tăng mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn chiếm lối đi chung.
Nếu bạn đang gặp vướng mắc về tranh chấp lối đi chung, hoặc bất kì câu hỏi nào liên quan đến lối đi chung, việc tham khảo ý kiến luật sư ngay từ giai đoạn đầu sẽ giúp xác định đúng hướng xử lý, chuẩn bị hồ sơ đầy đủ và xây dựng phương án giải quyết phù hợp với quy định của pháp luật.
CÔNG TY LUẬT TNHH BARRISCO
Trụ sở chính: Liền kề 88 ngõ 6 phố Nguyễn Văn Lộc, phường Hà Đông, Thành phố Hà Nội
Hotline: 0822.689.333 (LS. Nguyễn Như Hoàng)
Bình luận