top of page

Kết quả tìm kiếm

Search this site

Tìm thấy 85 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống

  • Thủ tục ly hôn

    Hồ sơ cần chuẩn bị để thực hiện thủ tục ly hôn thuận tình. Theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 , yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, chia tài sản khi ly hôn được xác định là việc dân sự. Do đó, để được Tòa án giải quyết theo thủ tục ly hôn thuận tình thì hai vợ chồng bạn phải chuẩn bị các loại giấy tờ, hồ sơ như sau: - Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; - Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính); - Sổ hộ khẩu (bản sao có chứng thực); - CMND/ Căn cước công dân/hộ chiếu (bản sao có chứng thực); - Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (sổ đỏ); đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao); - Các tài liệu, chứng cứ, giấy tờ chứng minh về khoản nợ, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (bản sao); - Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn và hồ sơ xin ly hôn; - Các giấy tờ, tài liệu khác (nếu có yêu cầu). Thủ tục ly hôn thuận tình được tiến hành như thế nào? Theo quy định của pháp luật hiện hành, thủ tục ly hôn thuận tình của vợ chồng có thể được thực hiện theo trình tự sau: Bước 1: Nộp hồ sơ giải quyết ly hôn Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 : “Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.” Do đó, việc nộp đơn ly hôn ở đâu cũng là một trong những việc hai vợ chồng có thể thỏa thuận. Khi đó, hai người có thể thỏa thuận đến Tòa án nơi cư trú của vợ hoặc của chồng để làm thủ tục. Hồ sơ ly hôn có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường Bưu điện. Bước 2: Nhận thông báo tiếp nhận đơn, thông báo về án phí. Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ, trong thời hạn 03 ngày, Chánh án Tòa án sẽ phân công Thẩm phán giải quyết. Nếu hồ sơ đủ điều kiện, Thẩm phán sẽ ra thông báo về nộp lệ phí và trong vòng 05 ngày, hai vợ chồng phải thực hiện xong. Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí. Căn cứ thông báo của Toà án sẽ tiến hành nộp tiền tạm ứng lệ phí tại Chi cục thi hành án dân sự cấp quận/huyện và nộp lại biên lai nộp tiền cho Tòa án (Nếu TAND cấp tỉnh giải quyết thì nộp tại Cục thi hành án dân sự cấp tỉnh). Bước 4: Tòa án chuẩn bị xét đơn yêu cầu và mở phiên họp công khai để giải quyết việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 01 tháng, kể từ ngày thụ lý. Trong thời gian chuẩn bị này, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp giải quyết và tiến hành mở phiên họp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Khi đó, Thẩm phán sẽ tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, giải thích quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ với con, về trách nhiệm cấp dưỡng… Bước 5: Ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn Trong trường hợp hòa giải thành, vợ chồng sẽ đoàn tụ với nhau thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu ly hôn của hai người. Nếu hòa giải không thành, vợ chồng vẫn muốn ly hôn thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật. Như vậy, trong trường hợp bạn và chồng đều muốn ly hôn thì sẽ cần chuẩn bị những giấy tờ và tiến hành theo thủ tục ly hôn thuận tình như bài viết trên. Công ty Barrisco Việt Nam cung cấp dịch vụ giải quyết ly hôn nhanh, ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương, ly hôn có yếu tố nước ngoài. SĐT: 0822689333

  • Tư vấn doanh nghiệp là gì?

    Tư vấn doanh nghiệp là dịch vụ giúp giải quyết mọi thắc mắc và cung cấp các giải pháp liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp, quản lý thuế, kế toán, vấn đề pháp lý và nhiều khía cạnh khác. Mục tiêu của tư vấn doanh nghiệp là hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động, phát triển bền vững và thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ với Nhà Nước hoặc hợp thức hóa hồ sơ giải thể của doanh nghiệp. Những năm gần đây, tư vấn doanh nghiệp đã trở thành sự lựa chọn hàng đầu của nhiều doanh nghiệp để nhận sự hỗ trợ và hướng dẫn liên quan đến việc tư vấn thành lập công ty, tư vấn về tài chính, kế toán thuế và xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến các dự án kinh doanh. I- PHẠM VI CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC DOANH NGHIỆP [1] Tư vấn pháp luật. Luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ. Trong đó bao gồm: Tư vấn thành lập, tư vấn loại hình công ty, tư vấn góp vốn, tư vấn tên công ty, trụ sở và các loại giấy phép cần thiết để doanh nghiệp hoạt động đúng quy định.... [2] Đại diện theo ủy quyền. Luật sư nhận ủy quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp để giải quyết các công việc có liên quan đến việc đã nhận theo phạm vi, nội dung được ghi trong Văn bản ủy quyền. [3] Tham gia tố tụng. Luật sư tham gia tố tụng tại Tòa án, Trọng tài với tư cách là người đại diện theo ủy quyền hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp (đương sự) trong vụ việc kinh doanh thương mại, vụ án hành chính. [4] Các công việc khác. Luật sư giúp Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính; giải quyết khiếu nại, thực hiện công việc khác liên quan đến pháp luật theo quy định của pháp luật. II- CÁC CÔNG VIỆC CỤ THỂ TRONG PHẠM VI DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC DOANH NGHIỆP [a] Chủ trì, phối hợp với các bộ phận liên quan tư vấn, giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp trong việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp; xây dựng và ban hành nội quy, quy chế của doanh nghiệp; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. [b] Chủ trì hoặc phối hợp với các tổ chức đoàn thể của doanh nghiệp phổ biến, giáo dục pháp luật, điều lệ, nội quy, quy chế của doanh nghiệp cho người lao động. [c] Chủ trì, phối hợp với các bộ phận liên quan giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, điều lệ, nội quy, quy chế của doanh nghiệp; tổng kết, đánh giá thực trạng hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của người lao động trong doanh nghiệp. [d] Tư vấn hoặc tham mưu việc thuê tư vấn pháp luật đối với các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá rủi ro môi trường đầu tư, kinh doanh đối với các dự án đầu tư của doanh nghiệp ra nước ngoài; có ý kiến về mặt pháp lý đối với các quyết định về tổ chức, quản lý của doanh nghiệp. [đ] Chủ trì hoặc phối hợp với các bộ phận liên quan giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp tham gia giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp; tham gia tố tụng hoặc tham mưu thuê luật sư tham gia tố tụng với tư cách người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. [g] Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp giao. III- TẦM QUAN TRỌNG CỦA DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC DOANH NGHIỆP [1] Là tiền đề cho quản trị doanh nghiệp hiệu quả Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực doanh nghiệp giúp làm tường minh giá trị, triết lý, chuẩn mực của nhà quản trị, điều hành doanh nghiệp. Tiếp theo, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp được hệ thống hoá, chuẩn hóa thành quy định, quy chế, sẽ tiền đề cho việc triển khai chiến lược, kế hoạch kinh doanh hiệu quả. [2] Góp phần nâng cao hiệu quả làm việc Ban hành và áp dụng nghiêm chỉnh quy định, quy chế, hướng dẫn về tổ chức, hoạt động của các phòng, ban, bộ phận tạo ra sự rõ ràng và có hệ thống. Việc phân định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận tạo nên minh bạch, từ đó sẽ thúc đẩy các thành viên ngừng nỗ lực làm việc và cải thiện hiệu quả công việc để đáp ứng mục tiêu đã đề ra. [3] Giảm tranh chấp thương mại Hệ thống quy chế, quy định, quy trình được rà soát và chuẩn hóa giúp các bộ phân liên quan có kiểm soát đầu ra và đầu vào. Điều này cũng giúp doanh nghiệp nhận diện nhà cung cấp, đối tác khách hàng tốt, phù hợp và giảm thiểu tranh chấp pháp sinh, [4] Góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của nhân viên Các hướng dẫn rõ ràng giúp cho bộ máy hoạt động trơn chu, giải quyết tình trạng chồng tréo hay đùn đẩy công việc cho nhau. Khi các thành viên hiểu được tầm quan trọng của công việc mình đang đảm nhận, đặc biệt là vai trò của họ trong sự phát triển chung của doanh nghiệp, họ sẽ cảm thấy có trách nhiệm hơn. [5] Hạn chế tối đa các sai sót trong phát sinh Tất cả nhân viên liên quan đều phải đọc và làm theo những quy trình, hướng dẫn công việc, đặc biệt là trong công việc có độ phức tạp cao và đòi hỏi sự làm việc nhóm của nhiều phòng ban với nhau. Kết quả là, công việc có tính chuẩn hóa cao và tranh được những sai sót cả chủ quan lẫn khách quan. [6[ Nhân sự mới dễ dàng hòa nhập Các hướng dẫn công việc đã được ban hành thành quy trình cụ thể giúp tổ chức doanh nghiệp dễ dàng và tiết kiện được thời gian trong việc đào tạo nhân viên mới. Những người mới làm sẽ ít mắc phải sai sót hơn nhờ vào các quy trình, hướng dẫn xử lý công việc có sẵn. [7] Góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp Khi cân nhắc lựa chọn giữa một doanh nghiệp có tổ chức pháp chế với một doanh nghiệp chưa có tổ chức pháp chế thì khách hàng và đối tác có xu hướng lựa chọn doanh nghiệp có tổ chức pháp chế, bởi trong tiềm thức của họ, đây là đơn vị có phong cách làm việc chuyên nghiệp, tuân thủ pháp luật, do đó sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp ra thị trường chất lượng tốt. [8] Góp phần tăng doanh thu Chỉ cần khách hàng, đối tác biết doanh nghiệp có tổ chức pháp chế, họ có cơ sở cho rằng đây là nhà cung cấp chuyên nghiệp và bài bản. Doanh nghiệp có nhiều lợi thế, cơ hội tiếp cận những khách hàng, đối tác lớn, cơ hội thành công khi tham gia đấu thầu cao hơn. Khách hàng tin tưởng hệ thống quản trị của doanh nghiệp, họ sẽ ưu tiên lựa chọn mua hàng và sử dụng các dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp; khách hàng cũ hài lòng, sẽ tiếp tục mua hàng và sử dụng dịch vụ của công ty cung cấp và sẵn sàng giới thiệu sản phẩm, dịch vụ cho các đối tác của họ. [9] Góp phần tăng lợi nhuận Quy trình, quy chế rõ rang giúp tăng hiệu quả và năng suất làm việc. Đồng thời, các sai sót được hạn hế mức tối đa, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được những khoảng chi phí phát sinh giành cho việc khắc phục những sai lầm đó. Kết quả, lợi nhận vẫn tăng kể cả trong tình huống doanh thu không tăng. Công Ty Luật TNHH Barrisco Hotline: Luật sư Hoàng 0822689333 Website: https://www.luatbarrisco.com/ Email: Barriscolawfirm@gmail.com Địa chỉ: Liền kề 88 Ngõ 6 P.Nguyễn Văn Lộc, Phường Mộ Lao, quận Hà Đông, TP.Hà Nội.

  • Cách viết di chúc

    Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. 1.     Hình thức di chúc. Di chúc có thể bằng văn bản hoặc di chúc miệng Di chúc phải được lập thành văn bản tiếng Việt có thể viết tay hoặc đánh máy in trên giấy nhìn được, đọc được. Nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Di chúc bằng văn bản bao gồm 04 loại: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng; Di chúc bằng văn bản có chứng thực. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ. Mẫu di chúc (Cách viết di chúc): 2.     Nội dung di chúc Di chúc thế nào được coi là hợp pháp? Theo quy định tại Điều 630  Bộ luật Dân sự năm 2015 , di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện về di chúc hợp pháp được quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng. 3.      Hiệu lực của di chúc Di chúc được coi là vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ khi không đáp ứng được các điều kiện của di chúc hợp pháp kể cả về mặt hình thức hay nội dung của di chúc. Theo quy định của  Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 , Toà án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố di chúc vô hiệu. Khi Toà án ban hành Quyết định hoặc Bản án có hiệu lực pháp luật tuyên bố di chúc vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ thì phần nội dung di chúc không bị vô hiệu vẫn có hiệu lực thực hiện, nếu tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì toàn bộ tài sản thừa kế của người chết sẽ được phân chia theo pháp luật cho những người được thừa kế của người để lại di sản thừa kế. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế, tức là khi người lập di chúc chết (Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015). Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp: Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Khoản 2 Điều 643 Bộ luật dân sự quy định rõ về di chúc không có hiệu lực: “2. Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây: a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực. 3. Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực. 4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực. 5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.” Trên đây là nội dung tư vấn về  cách viết di chúc và Mẫu di chúc có người làm chứng  của Luât Barrisco , nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ: Công Ty Luật TNHH Barrisco Hotline: Luật sư Hoàng 0822689333 Website: https://www.luatbarrisco.com/ Email: Barriscolawfirm@gmail.com Địa chỉ: Liền kề 88 Ngõ 6 P.Nguyễn Văn Lộc, Ph.Mộ Lao, Q.Hà Đông, TP.Hà Nội.

  • Chồng không được yêu cầu ly hôn dù vợ có thai với người khác

    Hội đồng thẩm phán TAND tối cao vừa ban hành Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP có hiệu lực từ ngày 01/7/2024. Cụ thể, căn cứ khoản 4, Điều 2 Nghị quyết có nội dung: “Trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn, không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai”. Theo đó tại khoản 3, điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 201: "Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi". Khi xảy ra sự kiện trên, người chồng nộp đơn ly hôn đến Tòa án thì Tòa án sẽ trả lại đơn, không thụ lý giải quyết. "Đang có thai" là khoảng thời gian vợ mang trong mình bào thai và được cơ sở y tế có thẩm quyền xác định cho đến thời điểm sinh con hoặc thời điểm đình chỉ thai nghén. "Sinh con" là một trong các trường hợp sau: vợ đã sinh con nhưng không nuôi con trong khoảng thời gian từ khi sinh con đến khi con dưới 12 tháng tuổi; vợ đã sinh con nhưng con chết trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tuổi kể từ khi sinh con; hoặc vợ có thai từ 22 tuần tuổi trở lên mà phải đình chỉ thai nghén. Nghị quyết nêu rõ, chồng không có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con. Trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai. Trường hợp vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt con đẻ, con nuôi. Quy định chồng không được quyền ly hôn khi vợ đang mang thai hoặc sinh con dưới 12 tháng tuổi không phải là mới, đã được quy định từ lâu. Trong số này, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 từng quy định tại điều 85 rằng, "trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn". Đến năm 2014, Luật Hôn nhân và gia đình mới được ban hành, thay thế Luật cũ năm 2000. Tại điều 51, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục quy định "chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi". Có thể thấy, Luật Hôn nhân và gia đình qua các thời kì đã từng quy định việc chồng không được yêu cầu ly hôn khi vợ đang mang thai, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.Tuy nhiên trong quá trình thực hiện pháp luật, vẫn xảy ra những trường hợp mà các Tòa đang không đồng nhất về quan điểm. Vì thế Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP được ban hành để hướng dẫn chi tiết về điều luật đó. Quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe tâm lý và thể chất của người vợ cũng như đứa con chưa chào đời. Thai kỳ là giai đoạn nhạy cảm đối với phụ nữ, đòi hỏi sự ổn định và hỗ trợ từ người chồng để bảo đảm thai nhi phát triển tốt nhất. Nếu chồng đơn phương ly hôn trong giai đoạn này, nó có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến sức khỏe của cả mẹ và con. Thực tế cho thấy rằng không phải người phụ nữ nào cũng có điều kiện kinh tế để tự xoay xở khi mang thai và nuôi con nhỏ. Thậm chí, nếu ly hôn, nhiều người phụ nữ có nguy cơ tay trắng, không nhà cửa, không tài sản… Trong hoàn cảnh rất khó khăn như vậy dễ khiến họ bị dồn vào bước đường cùng. Do vậy, việc không cho phép người chồng có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi nhằm bảo vệ tối đa bà mẹ và trẻ em. Quy định về việc chồng không được ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP không phải là quy định mới và việc có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 chỉ là ngày có hiệu lực của văn bản, chứ không phải là từ ngày 01/7/2024 thì chồng không được ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai còn trước đó thì được.

  • Một số điều cần biết về Giám đốc thẩm.

    1. Giám đốc thẩm là gì? Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. (Điều 370 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015) 2. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Theo Điều 371 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ: - Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; - Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án; - Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. 3. Thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bao gồm: - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. - Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực. - Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ. (Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015) 4. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm - Việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. - Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ. - Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. - Nếu không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì người có quyền kháng nghị phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị biết rõ lý do của việc không kháng nghị. (Điều 379 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015) 5. Thẩm quyền giám đốc thẩm Thẩm quyền giám đốc thẩm được quy định tại Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau: - Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị. - Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án. Khi xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia, do Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa số thành viên của Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án. - Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực bị kháng nghị. Khi xét xử giám đốc thẩm thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương tham gia, do Chánh án Tòa án quân sự trung ương làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa số thành viên của Ủy ban Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án. - Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương bị kháng nghị. - Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 4 Điều này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án. Khi xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa số thành viên của Hội đồng toàn thể Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Hội đồng toàn thể Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án. - Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.

  • 04 luật liên quan đất đai có hiệu lực sẽ khắc phục một số tồn tại

    (LSVN) - Theo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Quốc Khánh, bốn Luật gồm: Đất đai, Nhà ở, Kinh doanh bất động sản và Các tổ chức tín dụng có hiệu lực sớm từ 01/8, sẽ tạo hành lang pháp lý, giải quyết tình trạng cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm. Ngày 19/6, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Quốc Khánh thừa ủy quyền của Thủ tướng trình bày Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Các tổ chức tín dụng. Theo đó, Chính phủ đề xuất cho phép 03 luật liên quan tới thị trường bất động sản là Luật Đất đai, Nhà ở và Kinh doanh bất động sản có hiệu lực từ 01/8, sớm 05 tháng so với quyết nghị của Quốc hội. Việc cho phép Luật Đất đai có hiệu lực sớm hơn sẽ khắc phục tồn tại trong định giá đất, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư - vốn là nguyên nhân của tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, không dám làm, theo nhận định của Chính phủ. Đồng thời, tạo hành lang pháp lý, giải phóng nguồn lực đất đai, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển và đẩy nhanh thực hiện các dự án đầu tư công, nhà ở xã hội. Phía doanh nghiệp, người dân cũng được tạo điều kiện thuận lợi hơn trong thực hiện quyền của người sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi cho người có đất bị thu hồi. Ở góc độ thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh cho biết cơ quan này ủng hộ đề xuất của Chính phủ để các luật trên sớm đi vào cuộc sống. Song, theo cơ quan thẩm tra còn nhiều nội dung cần văn bản hướng dẫn chi tiết do đó đề nghị Chính phủ chuẩn bị kỹ lưỡng, bảo đảm tiến độ, chất lượng các văn bản hướng dẫn chi tiết. Có ý kiến trong cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ tính toán kỹ thời điểm điều chỉnh hiệu lực sớm và thời gian sớm bao nhiêu trên cơ sở xem xét hết sức thận trọng hai khía cạnh. Thứ nhất, tính cấp bách, cấp thiết của việc điều chỉnh thời điểm có hiệu lực của Luật từ ngày 01/8. Thứ hai là mức độ đáp ứng của các điều kiện bảo đảm thi hành Luật trong trường hợp Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8. Một số ý kiến đề nghị cân nhắc kỹ lưỡng việc luật có hiệu lực sớm khi chưa ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết. Có ý kiến đề nghị không điều chỉnh thời gian hiệu lực của các Luật. Cơ quan thẩm tra chỉ ra đến ngày 18/6, mới có 1/16 văn bản quy định chi tiết Luật Đất đai được ban hành; 07 văn bản quy định chi tiết Luật Nhà ở và 04 văn bản quy định chi tiết Luật Kinh doanh bất động sản đều chưa được ban hành do đó ông Thanh đề nghị Chính phủ báo cáo rõ nội dung này. Với các văn bản của địa phương quy định chi tiết nội dung được giao trong các luật, hồ sơ dự án Luật chưa có thông tin cụ thể về tiến độ, khó khăn, vướng mắc (nếu có) trong việc dự thảo và ban hành văn bản cho kịp với thời hạn hiệu lực sớm của 04 Luật. Cũng theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nhận thấy việc sửa đổi hiệu lực của các luật sớm hơn 05 tháng sẽ tạo áp lực rất lớn trong việc bảo đảm tiến độ, chất lượng của các văn bản cần được ban hành, nhất là các văn bản do các địa phương ban hành. Ủy ban Kinh tế của Quốc hội lo ngại trường hợp các địa phương không thể hoàn thành các văn bản hướng dẫn để triển khai thi hành luật do đó đề nghị Chính phủ báo cáo bổ sung về kết quả, tiến độ soạn thảo và ban hành các văn bản của địa phương, đồng thời dự báo khó khăn, vướng mắc, khả năng khiếu kiện của nhà đầu tư, người dân trong trường hợp chậm ban hành hoặc chất lượng văn bản đảm bảo, để có giải pháp phù hợp. NGUYÊN QUÝ

  • Hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về vị trí, vai trò của các chức năng tố tụng hình sự cơ bản

    Chức năng tố tụng hình sự cơ bản thực hiện những hướng hoạt động chính, chủ yếu của tố tụng hình sự, bao gồm: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Các chức năng cơ bản đóng vai trò quan trọng, là định hướng và tạo thế cân bằng cho các hoạt động tố tụng hình sự. Do đó, để hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cần xác định rõ vị trí, vai trò của ba chức năng cơ bản này trong tố tụng hình sự. 1. Về các chức năng tố tụng hình sự cơ bản Chức năng tố tụng là những định hướng đặc thù phân định các hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng khác nhau trong những phạm vi nhất định, được coi là một dạng chức năng nhà nước mang tính định hướng, trong đó có sự phân định rõ ràng hoạt động của các chủ thể khác nhau để đạt được mục đích nhất định với những quyền hạn (quyền) và nhiệm vụ (nghĩa vụ) khác nhau. Chức năng tố tụng hình sự bao gồm ba chức năng cơ bản (buộc tội, gỡ tội (bào chữa), xét xử) và các chức năng khác (như kiểm sát việc tuân theo pháp luật, khởi kiện dân sự). Có quan điểm cho rằng, điều tra cũng là một chức năng độc lập, có chủ thể thực hiện và đối tượng, nội dung cụ thể, riêng biệt. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, ngoài việc làm sáng tỏ nội dung vụ án, Cơ quan điều tra cùng Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội. Điều đó có nghĩa là vào thời điểm khởi tố bị can, chức năng buộc tội bắt đầu được thực hiện mà không chờ đến giai đoạn xét xử sơ thẩm. Chúng tôi cho rằng, Cơ quan điều tra khi tiến hành khởi tố bị can là đã thực hiện sự buộc tội và đã áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra. Do đó, Cơ quan điều tra cũng đang thực hiện chức năng buộc tội và điều tra không phải là một chức năng độc lập, mà là một bộ phận cấu thành của chức năng buộc tội. Ngoài ba chức năng tố tụng hình sự cơ bản thì còn các chức năng khác là chức năng độc lập nhưng không cơ bản, đó là: Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật; chức năng khởi kiện dân sự trong các vụ án hình sự. Như vậy, chức năng tố tụng hình sự cơ bản (buộc tội, gỡ tội, xét xử) và không cơ bản (kiểm sát, khởi kiện dân sự) đều cùng tồn tại trong tố tụng hình sự. Chức năng tố tụng hình sự cơ bản là những phương diện hoạt động chủ đạo, có tính chất tiêu biểu, đặc trưng cho hoạt động tố tụng hình sự và không thể thiếu trong tố tụng hình sự; nói cách khác, nó tồn tại trong tất cả các vụ án hình sự, liên quan trực tiếp đến sự xuất hiện, vận động và kết thúc của quá trình tố tụng hình sự. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Chức năng tố tụng hình sự cơ bản là chức năng cơ sở, nền tảng trong tố tụng hình sự, thể hiện những phương diện hoạt động chính và chủ yếu (không thể thiếu) của các chủ thể nhất định trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Các chức năng tố tụng hình sự cơ bản có những đặc điểm chính sau: Thứ nhất, các chức năng tố tụng hình sự cơ bản là những chức năng nền tảng, cơ sở, không thể thiếu của tố tụng hình sự. Các chức năng trong tố tụng hình sự là một trong những yếu tố hợp thành của tố tụng hình sự và giữ vị trí “xương sống” trong định hướng hoạt động của tố tụng hình sự. Ba chức năng tố tụng hình sự cơ bản là buộc tội, bào chữa và xét xử liên quan đến ba hướng hoạt động chính và chủ yếu của các chủ thể trong tố tụng hình sự. Khi bắt đầu có tội phạm xảy ra, xâm hại đến các lợi ích của xã hội và con người được Nhà nước bảo vệ thì xuất hiện nhu cầu buộc tội đối với người đó. Cũng từ đây xuất hiện nhu cầu bào chữa để bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội. Lúc này, hình thành bên thứ ba nhằm phân xử, đảm bảo sự công bằng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Thứ hai, về chủ thể thực hiện các chức năng tố tụng hình sự cơ bản. Mỗi chức năng tố tụng hình sự cơ bản có thể do một chủ thể hoặc một nhóm chủ thể tham gia thực hiện. Vấn đề đặt ra là: Việc phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể như thế nào để phù hợp với định hướng chủ yếu của hoạt động tố tụng nói chung, mà không phải là chức năng riêng biệt của chủ thể hay những hành vi tố tụng của các chủ thể? Bởi vì, chức năng tố tụng không đồng nhất với hành vi tố tụng của các chủ thể. Chức năng tố tụng hình sự cơ bản là chức năng chung, bao trùm, còn chức năng của chủ thể thực hiện là các chức năng riêng biệt của các chủ thể đó. Do đó, ngoài việc thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của mình, mỗi chủ thể còn phải phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự là yêu cầu và định hướng của chức năng tố tụng đặt ra. Theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, chủ thể thực hiện chức năng buộc tội là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; chủ thể của chức năng bào chữa gồm có người bào chữa, người bị buộc tội tự bào chữa; chủ thể của chức năng xét xử là Tòa án. Thứ ba, về phạm vi của các chức năng tố tụng hình sự cơ bản. Chức năng buộc tội xuất hiện khi có một người bị các cơ quan có thẩm quyền tố tụng buộc tội và kết thúc khi việc chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát hoặc người bị hại đã được Tòa án chấp nhận hoặc bác bỏ bằng hình thức bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Có quan điểm cho rằng, chức năng buộc tội xuất hiện từ khi cơ quan có thẩm quyền khởi tố bị can, hoặc từ thời điểm có người bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ; chức năng buộc tội sẽ kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, quan điểm về thời điểm xuất hiện chức năng buộc tội như trên là hẹp hơn so với quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, bởi người bị buộc tội bao gồm cả người bị bắt, bị can, bị cáo. Điều đó có nghĩa là chức năng buộc tội đã xuất hiện ngay từ thời điểm một người bị bắt quả tang, bị bắt theo lệnh truy nã, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, mà không chỉ là người bị giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự trước đây. Phạm vi của chức năng xét xử bắt đầu từ khi Tòa án có thẩm quyền thụ lý hồ sơ và bản cáo trạng từ Viện kiểm sát chuyển sang, kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Phạm vi của chức năng bào chữa được tính từ thời điểm xuất hiện chức năng buộc tội và chấm dứt khi chức năng buộc tội kết thúc. 2. Vị trí, vai trò của các chức năng tố tụng hình sự cơ bản trong tố tụng hình sự Tố tụng hình sự là lĩnh vực hoạt động có những mục đích nhất định, với sự hiện diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật quy định về thẩm quyền, địa vị pháp lý, mối quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng, quyền và nghĩa vụ pháp lý… theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, nhằm xác định các yếu tố về tội phạm và hình phạt. Có thể thấy, bất kỳ một hệ thống tố tụng hình sự nào cũng bao gồm các nhân tố như: Mục đích, nguyên tắc, chức năng của tố tụng hình sự; địa vị pháp lý của chủ thể hoạt động tố tụng hình sự; các giai đoạn tố tụng hình sự… Các nhân tố này hợp thành một hệ thống tố tụng hình sự thống nhất, trong đó mục đích là nhân tố quan trọng nhất, chi phối các yếu tố khác. Chức năng tố tụng hình sự là một bộ phận hợp thành tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, các chức năng tố tụng hình sự cơ bản còn bị chi phối, quyết định bởi các mục đích và nguyên tắc của tố tụng hình sự. Trước hết, chức năng tố tụng hình sự cơ bản quan trọng và không thể thiếu trong tố tụng hình sự, bởi chức năng của tố tụng hình sự là yếu tố hợp thành của tố tụng hình sự, quyết định mô hình tố tụng hình sự. Buộc tội, bào chữa và xét xử là ba chức năng tố tụng hình sự cơ bản có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau và tạo nên sự vận hành ổn định của tố tụng hình sự. Thiếu một trong ba chức năng cơ bản trên thì không thể tạo nên sự vận hành mang tính ổn định của tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, các chức năng tố tụng hình sự cơ bản còn có vị trí quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người. Các chức năng tố tụng hình sự cơ bản đều có mục đích chính là bảo vệ quyền con người. Để quyền con người được thực hiện trên thực tế, pháp luật tố tụng hình sự phải quy định hệ thống các bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện các quyền đó. Sự hình thành và phát triển của các chức năng tố tụng hình sự cơ bản bao gồm các hoạt động tố tụng khác nhau nhưng luôn vận hành trong mối liên hệ, nhằm tạo nên sự ổn định và mang tính “hướng đích” của hệ thống. Những hoạt động chính yếu, cơ bản đóng góp vào việc vận hành ổn định hệ thống tố tụng hình sự được gọi là chức năng tố tụng và nó cần được tiếp cận trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng thể hiện sự đòi hỏi khách quan của nhu cầu được bảo vệ quyền lợi chính đáng của cá nhân người bị buộc tội trước cáo buộc của Nhà nước. Các chức năng tố tụng hình sự cơ bản không chỉ là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc kiểm soát tội phạm, mà còn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. 3. Kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 từ vị trí, vai trò của các chức năng tố tụng hình sự cơ bản trong tố tụng hình sự Thứ nhất, hoàn thiện các nguyên tắc của tố tụng hình sự. Nguyên tắc của tố tụng hình sự là những nguyên tắc cơ bản, chi phối và điều chỉnh các giai đoạn tố tụng hình sự. Hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự không chỉ có ý nghĩa là kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự trong thực tiễn áp dụng, mà còn là tiền đề, căn cứ quan trọng để hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (BLTTHS năm 2015). Để phân định rõ ràng hơn các chức năng tố tụng hình sự, việc nghiên cứu và hoàn thiện nhóm các nguyên tắc là rất cần thiết. Theo đó, cần hoàn thiện một số nguyên tắc cụ thể sau: - Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 15) chưa xác định rõ trách nhiệm chứng minh của từng cơ quan theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà mỗi cơ quan đảm nhiệm. Nếu xét theo chủ thể thực hiện chức năng tố tụng thì mỗi chủ thể có trách nhiệm chứng minh tội phạm ở các mức độ khác nhau. Ví dụ: Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cùng có trách nhiệm phát hiện tội phạm, đưa người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử, hoạt động điều tra là để phục vụ cho hoạt động công tố, nhưng Cơ quan điều tra vẫn có vai trò chủ động, Kiểm sát viên không làm thay nhiệm vụ của Điều tra viên, mà đóng vai trò “dẫn đường” trong việc thu thập chứng cứ, chứng minh sự thật vụ án trong giai đoạn điều tra. Với chức năng xét xử, Tòa án là cơ quan ra phán quyết cuối cùng dựa trên kết quả điều tra, xác minh công khai tại phiên tòa. Phạm vi và hoạt động chứng minh của mỗi chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng là khác nhau, do đó, cần quy định sự khác nhau trong việc chứng minh tội phạm của các chủ thể. - Cần tách Điều 20 thành 02 nguyên tắc độc lập là: Nguyên tắc trách nhiệm thực hành quyền công tố và nguyên tắc trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật, để xác định rõ hai chức năng độc lập này trong hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát. Theo đó, thực hành quyền công tố là một trong những hoạt động của chức năng cơ bản (buộc tội), còn kiểm sát là chức năng tố tụng không cơ bản. Thứ hai, xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của từng chủ thể khi thực hiện chức năng tố tụng. - Đối với các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội: Trong các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, Viện kiểm sát là chủ thể có vị trí quan trọng và thực hiện đồng thời hai chức năng buộc tội và kiểm sát. Do đó, cần quy định rõ ràng và độc lập hơn về nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hiện hai chức năng này của Viện kiểm sát. Theo tác giả, cần sửa đổi, bổ sung Điều 41 và Điều 42 theo hướng: Xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên khi thực hiện chức năng buộc tội và khi thực hiện chức năng gỡ tội; bổ sung các quy định cụ thể nhằm xác định rõ thẩm quyền của Kiểm sát viên sau khi Viện trưởng Viện kiểm sát đã ra quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giải quyết vụ án hình sự. Về kỹ thuật lập pháp, cần tách các quy định về kiểm sát thành một phần hoặc chương riêng, trong đó quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, hoạt động kiểm sát của tất cả các giai đoạn tố tụng. - Cần hoàn thiện một số quyền của người bào chữa, trách nhiệm của các cơ quan và người có thẩm quyền trong việc bảo đảm quyền này như: Quyền được gặp, hỏi và có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can theo Điều 73; quyền gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam và trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền trong việc bảo đảm theo Điều 80; quyền được thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa và đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu thập theo Điều 81; quyền được đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án cũng như trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm cho người bào chữa thực hiện quyền này theo Điều 82. Đây là những quyền cụ thể, quan trọng của người bào chữa để thực hiện hiệu quả chức năng bào chữa nhưng lại đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành. - Đối với chủ thể thực hiện chức năng xét xử: Tòa án cần đảm bảo vị trí là cơ quan xét xử nhưng có vai trò chủ động hơn trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Theo đó, cần bãi bỏ các quy định về thẩm quyền buộc tội hoặc có tính buộc tội của Tòa án (như chứng minh tội phạm, khởi tố vụ án, trả hồ sơ để điều tra bổ sung); sửa đổi quy định về giới hạn xét xử theo hướng: Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố; sửa đổi điều khoản về trình tự xét hỏi theo hướng: Dành phần lớn thời gian xét hỏi và tranh luận cho bên buộc tội và gỡ tội. Tóm lại, Tòa án cần chủ động chứng minh tội phạm thông qua việc tranh tụng giữa Viện kiểm sát với bên bào chữa tại phiên toà và thực hiện vai trò của một trọng tài trong vụ án để ra các phán quyết khách quan, công bằng. PGS.TS. Đỗ Thị Phượng

  • Chiêu chiếm đoạt hơn 13 tỷ đồng của chủ hụi

    Hoàng Thị Thảo, 36 tuổi, rủ hàng chục người góp tiền chơi hụi, hứa trả lãi cao, sau đó đưa ra nhiều thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt hơn 13 tỷ đồng. Bản án ngày 19/6 của TAND tỉnh Hà Tĩnh tuyên phạt Thảo 20 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo Điều 174 Bộ luật Hình sự; buộc bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho các nạn nhân. Tại tòa, Thảo khóc, nói hối hận, mong được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đi làm khắc phục hậu quả. Theo cáo trạng, Thảo buôn bán nhỏ lẻ ở chợ Voi, xã Kỳ Phong, huyện Kỳ Anh. Năm 2015, bị cáo đứng ra làm chủ, rủ nhiều tiểu thương góp tiền chơi hụi theo hình thức có lãi. Mỗi dây hụi 10 suất tham gia, mỗi người đóng 100.000 đồng một ngày trong thời hạn 10 tháng, một cá nhân có thể đóng nhiều suất. Cuối tháng, ai đóng đủ tiền theo thỏa thuận thì bốc thăm để mua hụi. Thảo ghi chép đầy đủ số người tham gia trong cùng một dây hụi và số tiền thu trong sổ theo dõi. Cuối năm 2019, việc kinh doanh bị thua lỗ, số tiền lãi phải trả cho các dây hụi tăng lên nên bắt đầu thâm hụt vào các khoản mà Thảo đã thu. Đầu năm 2020, khi thâm hụt 2-3 tỷ đồng và mất khả năng thanh toán, Thảo "vẽ" ra thủ đoạn trả lãi cao để người tham gia tin tưởng tiếp tục đóng hụi. Khi có người cần mua hụi, Thảo không có tiền trả nên nói dối "có đối tác khác đã mua với giá cao hơn", hoặc tự viết giá với chênh lệch lớn để họ không mua được. Tháng 1/2023, khi bị nhiều người yêu cầu trả lại tiền, Thảo tuyên bố vỡ nợ. Nhà chức trách cáo buộc, bằng thủ đoạn trên, từ năm 2020-2023, Thảo đã lừa đảo chiếm đoạt hơn 13 tỷ đồng của 65 người.

  • Hà Nội dự kiến chi 26.000 tỷ cho công tác phòng cháy chữa cháy

    Sau hàng loạt vụ cháy xảy ra trong nửa đầu năm 2024, mới đây UBND Thành phố Hà Nội vừa có tờ trình gửi HĐND thành phố xem xét, thông qua “Đề án nâng cao năng lực và bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC&CNCH) trên địa bàn Thủ đô giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đề án dự kiến khoảng hơn 26.000 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách cấp thành phố khoảng 13.852,67 tỷ đồng, ngân sách cấp huyện khoảng 12.488,78 tỷ đồng. Về lộ trình thực hiện, đề án dự kiến được thực hiện trong 2 giai đoạn: - Giai đoạn 1 (từ nay đến năm 2025) tổ chức phổ biến, quán triệt toàn văn đề án; tập trung triển khai thực hiện các nội dung, nhiệm vụ, giải pháp của đề án đã được phân công cụ thể trong giai đoạn này. sơ bộ kinh phí dự kiến khoảng 10.620,35 tỷ - Giai đoạn 2 (năm 2026 - 2030) thực hiện nội dung, nhiệm vụ, giải pháp của đề án đã được phân công cụ thể trong giai đoạn này và tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ chưa hoàn thành trong giai đoạn đến 2025 (nếu có). Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn tiếp theo. sơ bộ dự kiến kinh phí khoảng 15.721,1 tỷ đồng. UBND TP. Hà Nội cho biết, hiện nay công tác PCCC&CNCH của thành phố vẫn còn một số hạn chế, vẫn còn những vụ cháy gây hậu quả nghiêm trọng về người xảy ra tại nhà ở, nhà ở kết hợp sản xuất kinh doanh và một số loại hình cơ sở khác trong khu dân cư. Trong khi đó, tiến độ xử lý đối với các công trình vi phạm PCCC còn chậm do gặp nhiều bất cập. Ngoài ra, quy hoạch và xây dựng hệ thống cơ sở của hệ lực lượng Cảnh sát PCCC&CNCH còn chưa phù hợp với mô hình, quy định mới… Dự kiến, đề án trên sẽ được xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 17, HĐND TP. Hà Nội được tổ chức từ ngày 1/7- 5/7/2024.

  • CON RUỘT KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN THỪA KẾ CỦA CHA MẸ?

    Quyền thừa kế tài sản theo quy định của pháp luật Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015, quy định cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người để lại di sản hoàn toàn có quyền chủ động đưa ra những ai có quyền được hưởng di chúc, mỗi người được hưởng bao nhiêu hoặc những ai bị truất quyền hưởng di chúc, dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản… mà không bị phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể khác. Ngoài ra người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào. Nếu một người chết để lại di chúc thì phải thực hiện việc dịch chuyển tài sản đến người có quyền được hưởng di sản thừa kế theo đúng ý chí của người lập di chúc. Việc hưởng di sản thừa kế theo pháp luật chỉ xảy ra nếu không có di chúc, di chúc không hợp pháp và các nguyên do khác phát sinh từ người thừa kế. Các trường hợp dù là con ruột nhưng vẫn không được hưởng thừa kế từ cha mẹ: Căn cứ Điều 621, Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, các trường hợp sau đây không được quyền hưởng di sản thừa kế: - Con trên 18 tuổi có khả năng lao động bị truất quyền thừa kế. Có thể hiểu, truất quyền thừa kế là việc người lập di chúc không muốn để lại di sản thừa kế của mình cho một người nào đó và ý chí này được ghi trong di chúc; Điều này áp dụng khi người lập di chúc quyết định không muốn để lại di sản cho một con ruột nào đó và ý chí này được ghi rõ trong di chúc. - Con trên 18 tuổi, có khả năng lao động, không có tên trong di chúc. Trường hợp này xảy ra khi người ruột không được đề cập trong di chúc của người để lại di sản. - Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó. Những người có hành vi vi phạm đạo đức nghiêm trọng như này sẽ bị loại trừ khỏi quyền hưởng di sản. - Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản. Con ruột không có quyền thừa kế nếu họ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng của mình đối với người để lại di sản. - Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng. hững người có hành vi xâm phạm tính mạng người khác để đạt được lợi ích từ di sản sẽ không được hưởng thừa kế. - Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Các quy định này nhằm mục đích bảo vệ tính công bằng, đảm bảo rằng những người thừa kế là những người có đủ điều kiện và không có hành vi vi phạm pháp luật hoặc đạo đức nghiêm trọng. Việc áp dụng chặt chẽ các quy định này giúp cho việc thừa kế diễn ra một cách minh bạch và công bằng, tránh các tranh chấp pháp lý sau này. Luật sư Barrisco

  • Luật Đất Đai 2024: Mở rộng quyền lợi mua đất cho người Việt Kiều

    Luật Đất Đai 2024 đã đưa ra những thay đổi quan trọng, mở rộng quyền lợi cho người Việt Kiều trong việc sở hữu và giao dịch đất đai tại Việt Nam. Điều này đánh dấu một bước tiến quan trọng, tạo cơ hội lớn cho cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia vào thị trường bất động sản nội địa một cách tự do và công bằng hơn. Quyền mua đất của Việt Kiều vẫn chỉ hạn chế đối với “người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài” (theo quy định tại Luật Đất Đai 2024). Còn “người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam” hoàn toàn có thể được nhận quyền sử dụng đất, được trực tiếp tham gia giao dịch bất động sản trong nước mà không cần phải nhờ người thân trong nước đứng tên thực hiện giao dịch chuyển nhượng, tránh những mâu thuẫn không đáng có khi nhờ người thân đứng tên hộ. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm 02 đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Quốc Tịch 2008: - Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài: Đây là những cá nhân vẫn còn quốc tịch Việt Nam và hiện đang cư trú ở nước ngoài. - Người gốc Việt Nam sinh sống, cư trú ở nước ngoài: Đây là những cá nhân có gốc Việt Nam nhưng hiện tại đã thôi quốc tịch và cư trú, làm việc tại nước ngoài. Mới đây, Luật Đất đai 2024 sửa đổi đã quy định mở rộng quyền mua đất của người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam. Khoản 3 Điều 4 Luật Đất đai 2024 quy định công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ về quyền sử dụng đất giống như cá nhân trong nước. Vì thế các cá nhân hoàn toàn có thể được trực tiếp tham gia mua bán bất động mà không bị giới hạn về quyền thực hiện giao dịch chuyển nhượng. Bên cạnh quyền mua đất, người gốc Việt định cư ở nước ngoài cũng sẽ được quyền thuê mua nhà ở và nhận quyền sử dụng đất thông qua các dự án phát triển nhà ở. Luật Đất đai 2024 cũng cho phép được quyền thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất khác theo quy định. Cùng với đó, Khoản d Điều 28 Luật Đất đai 2024 cũng quy định người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sẽ được thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê đất. Luật Đất Đai 2024 không chỉ đơn thuần là văn bản pháp luật điều chỉnh về quyền sử dụng đất đai và nhà ở mà còn là một công cụ quan trọng để thu hút đầu tư từ người Việt Kiều trở về đầu tư vào bất động sản tại quê hương. Điều này không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn làm nền tảng cho sự hòa nhập và phát triển bền vững của đất nước. Việc mở rộng quyền lợi mua đất cho người Việt Kiều cũng phản ánh sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước đối với người dân Việt Nam ở nước ngoài, từ đó củng cố và phát triển mối liên kết văn hóa, lịch sử với quê hương. Đây cũng là bước đi quan trọng, mang tính chiến lược để nâng cao uy tín và hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế. Luật sư Barrisco

  • Đất không giấy tờ được cấp sổ đỏ

    NHỮNG LOẠI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ SẼ ĐƯỢC CẤP SỔ ĐỎ THEO LUẬT ĐẤT ĐAI 2024 Đất không có giấy tờ là gì? Đất không có giấy tờ là đất mà người dân đang sử dụng không có một trong những loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định trong Luật Đất Đai và Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 16, 17 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP. Nghĩa là không có một trong những loại giấy tờ về quyền sử dụng đất dưới đây: - Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính trước ngày 15/10/1993. - Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất. - Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993 được UBND xã, phường, thị trấn (gọi tắt là UBND cấp xã) xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15/10/1993. - Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật. Đất không có giấy tờ có được cấp sổ đỏ? Mặc dù đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất vẫn được cấp Giấy chứng nhận nếu đủ điều kiện theo từng trường hợp cụ thể. Theo quy định tại Điều 138 Luật Đất đai 2024 đã chia ra 03 nhóm được cấp Sổ đỏ, Sổ hồng với đất không có giấy tờ gồm: - Nhóm 1: Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định trước ngày 18/12/1980, nay được Ủy ban nhân dân (UBND) xã nơi có đất xác nhận là không có tranh chấp. Nhóm 2: Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định từ 18/12/1980 đến trước 15/10/1993, nay được UBND xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp. - Nhóm 3: Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định từ 15/10/1993 đến trước 01/7/2014, nay được UBND xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp. Theo đó, có thể thấy Luật Đất đai 2024 quy định chi tiết 03 mốc thời gian sẽ được xét cấp sổ đỏ, sổ hồng gồm: Từ trước 18/12/1980, từ 18/12/1980 - trước 15/10/1993 và từ 15/10/1993 - trước 01/7/2014. Như vậy, Luật Đất đai 2024 đã mở rộng mốc thời gian sử dụng đất không có giấy tờ được cấp Sổ đỏ kéo dài thêm 10 năm. Theo quy định tại khoản 3 Điều 138 Luật Đất đai 2024, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất từ 15/10/1993 - trước 01/7/2014 không có giấy tờ sẽ được cấp Sổ đỏ khi đáp ứng được các điều kiện: - Không vi phạm quy định về pháp luật đất đai. - Không thuộc trường hợp đất được Nhà nước giao không đúng thẩm quyền. - Được UBND xã nơi có đất xác nhận đất không có tranh chấp. Theo quy định tại khoản 1 Điều 118 Luật Đất đai 2024, đất nông nghiệp đã được chuyển đổi thành đất ở hoặc đất phi nông nghiệp trước ngày 01/7/2014 mà không có giấy tờ hoặc hộ khẩu thường trú, hay nằm trong vùng kinh tế khó khăn và được UBND xã xác nhận không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, sẽ được cấp Giấy chứng nhận mà không phải nộp tiền sử dụng đất. Ngoài ra, các hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp ổn định, nếu được UBND xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch, cũng sẽ được cấp Giấy chứng nhận theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. Tuy nhiên, diện tích đất được cấp sẽ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp cho cá nhân theo quy định.

zalo

Giải đáp

​Văn phòng Hà Nội​​​

Địa chỉ: LK 88 Ngõ 6 phố Nguyễn Văn Lộc, Phường Hà Đông, thành phố Hà Nội

SĐT: 0822689333 - 0828129666 (LS. Hoàng)

Văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Phòng số 201, số 171 đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh

SĐT: 0857682666 (LS. Phương Linh)

Hãng Luật Barrisco Việt Nam

Văn phòng Hà Nội

LK 88 Ngõ 6 Phố Nguyễn Văn Lộc, Phường Hà Đông TP.Hà Nội

Văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

Phòng số 201, số 171 đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh

bottom of page