top of page

Kết quả tìm kiếm

Search this site

Tìm thấy 85 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống

  • Công ty luật TNHH BARRISCO bố cáo thành lập Chi nhánh Thanh Hóa.

    Thành lập chi nhánh Bố cáo thành lập Công ty luật trách nhiệm hữu hạn BARRISCO - Chi nhánh Thanh Hóa Công ty luật TNHH BARRISCO bố cáo thành lập Chi nhánh Thanh Hóa. Trụ sở Công ty Luật Barrisco tại Cẩm Thủy 1. Tên chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư: CÔNG TY LUẬT TNHH BARRISCO - CHI NHÁNH THANH HÓA. 2. Địa chỉ trụ sở: TDP Hoàng Giang, thị trấn Phong Sơn, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. - Điện thoại: 0822689333;  Email: Barriscolawfirm@gmail.com . 3. Trưởng chi nhánh: Luật sư Nguyễn Như Hoàng. 4. Lĩnh vực đăng ký hoạt động theo Giấy Đăng ký hoạt động số: 26040098/TP/ĐKHĐ do Sở Tư pháp Thanh Hóa cấp ngày 11/12/2024. - Tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật; - Tư vấn pháp luật; - Đại diện ngoài tố tụng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật; - Thực hiện các dịch vụ pháp lý khác theo quy định pháp luật. Trưởng Chi nhánh Luật sư Nguyễn Như Hoàng

  • Luật sư Nguyễn Như Hoàng: "ĐƯỜNG TÌM CÔNG LÝ VỐN KHÔNG CÓ NGÕ CỤT, CHỈ CÓ HƯỚNG ĐI CHƯA ĐÚNG ĐẮN"

    “10 năm hành nghề trong lĩnh vực tranh tụng, tôi luôn trăn trở làm sao để vụ án được tháo gỡ một cách nhanh nhất, công bằng nhất. Sau cùng tôi đã nhận ra việc tìm kiếm công bằng không phải do bản thân Luật sư hay cơ quan tiến hành tố tụng mà do chính từ phía các đương sự.” Luật sư Nguyễn Như Hoàng - Giám đốc điều hành Hãng Luật Barrisco Tôi luôn tâm niệm: “Trên con đường tìm công lý không có ngõ cụt, chỉ có hường đi chưa đúng đắn”. Thật vậy, vạn vật trên đời xảy ra đều là lẽ đương nhiên ,mọi việc trên đời ta làm đều có sự chứng kiến của đất trời không thể nào chối cãi. Vì vậy chỉ cần trong lòng có công lý, bản thân không sai thì đều có hướng giải quyết. Tuy vậy hành trình đi tìm công lý chưa bao giờ là dễ dàng, mỗi khi đi sai đường chúng ta thường cảm thấy bế tắc, chán nản và tuyệt vọng điều đó sẽ khiến lý trí chúng ta không còn tin vào công lý nữa. Trải qua suốt nhiều năm trải nghiệm làm nghề với tư cách là Luật sư tranh tụng, tôi cho rằng sở dĩ xuất hiện "ngõ cụt" khi đi tìm công lý là do con đường chúng ta đi ngay từ đầu đã chưa đúng đắn. I. Đi vào “ngõ cụt” dẫn đến sai phạm, kết quả không như mong muốn. Trước tiên, tôi muốn các bạn hiểu thêm về “ngõ cụt” mà tôi đang nhắc tới: Ngõ cụt là tình huống trong quá trình giải quyết vụ án, khi các bên tham gia (nguyên đơn, bị đơn, hoặc cơ quan xét xử) gặp phải những rào cản mà không thể tiến hành hoặc giải quyết vụ án một cách triệt để và hiệu quả. Chẳng hạn như thiếu chứng cứ, các quy định pháp lý không rõ ràng, các yếu tố ngoài tầm kiểm soát, hoặc các sai sót trong quá trình tố tụng. Tôi từng nghe một câu nói rất hay từ cổ nhân: “Có một số việc ngay từ đầu đã sai rồi , nhưng đợi đến khi không thể cứu vãn nổi mới chịu thừa nhận” việc giải quyết tranh chấp cũng vậy đôi khi chỉ vì sai lầm nhỏ mà đương sự mãi cố chấp làm theo phương án đó cho tới khi không còn cơ hội thắng kiện nữa mới tìm tới Luật sư. Nếu biết trước việc tìm tới Luật sư sẽ giúp ích cho vụ kiện tại sao không thực hiện ngay từ đầu? Các tình huống ngõ cụt trong pháp lý có thể bao gồm: Thiếu chứng cứ: Trong các vụ án dù là dân sự hay hình sự, nếu các bên không thể thu thập đủ chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu hoặc bảo vệ quyền lợi của mình, vụ án có thể bị đình chỉ hoặc không thể tiếp tục giải quyết. Việc thiếu chứng cứ hợp pháp, rõ ràng hoặc đầy đủ có thể làm cho một vụ án rơi vào tình trạng ngõ cụt. Có những trường hợp mặc dù bản thân rất đúng tuy nhiên do trong quá trình giải quyết vụ án chủ quan mà thu thập thiếu tài liệu, chứng cứ dẫn tới thua kiện. Vấn đề về thủ tục pháp lý: Các sai sót trong thủ tục tố tụng như việc không tuân thủ đúng thời gian kháng cáo, gửi đơn sai địa chỉ, hoặc không cung cấp đủ thông tin theo yêu cầu của tòa án có thể khiến vụ án không thể tiếp tục hoặc bị bác bỏ. Đây là những "ngõ cụt" mà các bên không thể vượt qua do lỗi từ thủ tục pháp lý. Hay trong vụ án hành chính, thay vì tìm ra phương án đúng, người dân lại gửi đơn thư tới nhiều cấp chính quyền không những không hiệu quả mà còn làm mất đi thời hiệu khiếu kiện vụ án hành chính. Đơn cử như trường hợp khách hàng của chúng tôi: Trước khi tìm tới Luật sư đã tự khiếu kiện 1 vụ án tranh chấp đất đai và xây dựng trái phép trên đất đang tranh chấp. Khiếu kiện kéo dài suốt 8 năm, khiếu nại tới nhiều cấp chính quyền nhưng không hiệu quả do không đúng thẩm quyền giải quyết. Đến với công ty Luật Barrisco khách hàng mong muốn khởi kiện hành chính ông Chủ tịch UBND xã vì không giải quyết tranh chấp. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, tài liệu, Luật sư Barrisco nhận thấy việc khiếu kiện không đem lại hiệu quả, vụ án này cần khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi quản lý thửa đất để giải quyết. Sau hơn 1 năm và 2 cấp xét xử người khởi kiện đã giải quyết được nút thắt suốt 10 năm dài trong bế tắc. Khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp: Một số vụ án có thể gặp phải tình huống mà các bên không thể đạt được thỏa thuận hoặc hòa giải, mặc dù đã có sự can thiệp của tòa án. Điều này khiến vụ án bị kéo dài hoặc gặp bế tắc, không thể tìm ra giải pháp cụ thể. Các yếu tố ngoại lệ (thời hiệu, thẩm quyền,…). Vấn đề về thời hiệu (Quy định tại Chương X Bộ luật dân sự 2015; Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự 2015) hoặc xác định sai thẩm quyền của tòa án (Chương III Bộ luật tố tụng dân sự 2015) có thể tạo ra "ngõ cụt" trong việc giải quyết vụ việc pháp lý. Lỗi của cơ quan tiến hành tố tụng. Đôi khi, các sai sót từ phía các cơ quan tố tụng (như tòa án, công an, viện kiểm sát) trong quá trình điều tra, xét xử cũng có thể gây ra ngõ cụt. Ví dụ, tòa án không xem xét đúng các chứng cứ hoặc không áp dụng đúng các quy định pháp lý dẫn đến một phán quyết sai lầm hoặc không công bằng. Ảnh hưởng của việc sai phương hướng giải quyết trong tố tụng: Trì hoãn và kéo dài vụ án: Các ngõ cụt này có thể làm cho vụ án bị trì hoãn hoặc kéo dài, ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên và làm giảm sự tin tưởng của công chúng vào hệ thống tư pháp. Khó đạt được công lý: Khi các ngõ cụt xảy ra, công lý có thể không được thực thi đúng đắn, đặc biệt nếu vụ án bị đình chỉ hay không thể giải quyết do thiếu chứng cứ hoặc vấn đề thủ tục. Bất bình đẳng trong quyền lợi: Nếu một trong các bên không thể tiếp cận công lý do các ngõ cụt trong pháp lý, điều này có thể dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc thực thi quyền lợi của họ. III. Hướng giải quyết đúng đắn. Khi việc giải quyết vụ án đi vào "ngõ cụt", cần phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản của pháp lý và các bước thực hiện cụ thể nhằm đảm bảo công lý được thực thi một cách công bằng. Lúc này người các bạn có thể tin tưởng chính là những người được xã hội phân công nhiệm vụ chuyên giải quyết tranh chấp pháp lý liên quan. Với vai trò là những người cung cấp dịch dịch vụ pháp lý chúng tôi hy vọng có sự hợp tác với khách hàng trong mọi vấn đề về thủ tục để có thể giải quyết nhanh chóng các vụ việc, vụ án nhằm đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho khách hàng. Đối với khách hàng nói chung khi có xảy ra tranh chấp về kiện tụng… để có thể giải quyết nhanh chóng hãy tìm đến đến những công ty Luật, Văn phòng Luật,... uy tín để gửi gắm. Được thành lập bởi các luật sư tranh tụng hàng đầu Việt Nam, đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, mong muốn tạo lập môi trường hoạt động lành mạnh cho các luật sư, và là điểm dừng chân xứng đáng của những người có mong muốn truy cầu công lý. Mỗi đối tượng khác hàng chúng tôi luôn chuẩn bị phương án riêng biệt để giải quyết tranh chấp hiệu quả, triệt để và tiết kiệm thời gian nhất. Cụ thể: 1. Đối với Nguyên đơn (Người khởi kiện) Chuẩn bị chứng cứ đầy đủ và hợp pháp: Nguyên đơn cần đảm bảo rằng mình có đủ chứng cứ xác thực và hợp pháp để chứng minh yêu cầu của mình. Việc thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan là rất quan trọng trong việc chứng minh vụ án của mình có cơ sở. Ngoài ra trong vụ án dân sự, lời khai cũng là chứng cứ quan trọng do đó cần có một sự chau chuốt nhất định khi cung cấp lời khai cho Tòa án để có kết quả khách quan nhất. Tư vấn việc Tuân thủ đúng thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ thủ tục tố tụng đối với Nguyên đơn là tối quan trọng nếu không rất dễ gặp tình trạng Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án do sự vắng mặt của Nguyên đơn. Nguyên đơn cần chú ý đến việc thực hiện các thủ tục pháp lý đúng hạn và đúng cách, bao gồm việc nộp đơn khởi kiện, thông báo, chứng cứ và các yêu cầu liên quan đến vụ án. Lập phương án Thương lượng hoặc hòa giải: Trước khi tiến hành vụ án, nguyên đơn có thể thử các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa như hòa giải, thương lượng với bị đơn hoặc các bên liên quan. Nếu có thể đạt được một thỏa thuận, vụ án có thể được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả hơn. Sẵn sàng Kháng cáo khi không đồng ý với phán quyết của Tòa án: Nếu nguyên đơn không đồng tình với quyết định của tòa án, họ có thể sử dụng quyền kháng cáo hoặc yêu cầu xét lại trong thời gian quy định để tìm ra phương án giải quyết công bằng hơn. 2. Đối với Bị đơn (Người bị kiện) Chuẩn bị phản biện hợp lý: Bị đơn cần chuẩn bị những chứng cứ, tài liệu hoặc lý lẽ hợp lý để bảo vệ quyền lợi của mình. Điều này giúp đối phó với yêu cầu của nguyên đơn và chứng minh mình không có lỗi hoặc không vi phạm pháp luật. Tương tự Nguyên đơn, Lời khai của bị đơn cũng rất quan trọng và có thể làm căn cứ để Nguyên đơn lợi dụng sơ hở đưa ra luận điểm bất lợi. Thực hiện đúng thủ tục tố tụng: Bị đơn cũng cần tuân thủ các thủ tục tố tụng một cách nghiêm túc và đúng hạn, như việc gửi các phản hồi hoặc yêu cầu về vụ án theo đúng quy định pháp luật. Thương lượng giải quyết tranh chấp: Trong nhiều trường hợp, việc thương lượng hoặc hòa giải có thể giúp bị đơn tìm ra giải pháp không cần phải qua các phiên xét xử kéo dài và tốn kém. Đây cũng là một cách giúp giảm thiểu thiệt hại cho cả hai bên. Kháng cáo hoặc yêu cầu xét lại: Giống như nguyên đơn, bị đơn cũng có quyền kháng cáo nếu không đồng ý với quyết định của tòa án, nhằm bảo vệ quyền lợi của mình và tìm kiếm một kết quả công bằng hơn. Khách hàng chỉ cần mang tới Hãng luật Barrisco một câu chuyện, về phần thu thập tại liệu chứng cứ, soạn thảo hồ sơ, tiến hành thủ tục khởi kiện, chuẩn bị xét xử và tham gia xét xử,... chúng tôi sẽ thực hiện để bảo vệ bạn như 1 người “quản gia” thân cận. Luật sư Nguyễn Như Hoàng. Liên hệ với chúng tôi: Văn Phòng Miền Bắc: LK 88 Ngõ 6 P.Nguyễn Văn Lộc, Ph.Mộ Lao, Q.Hà Đông, TP.Hà Nội Văn phòng Miền Nam: Số 171 đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Phú, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Hotline: 0822689333 Email: Barriscolawfirm@gmail.com.

  • Luật đất đai 2024: "Người dân có thể giải quyết tranh chấp đất ở đâu?"

    Người dân có thể giải quyết tranh chấp đất ở đâu Luật Đất đai 2024 có quy định mới về thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến đất đai. Theo đó, từ ngày 1-8-2024, khi Luật Đất đai 2024 chính thức có hiệu lực thi hành, trọng tài thương mại cũng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến đất đai. Thẩm quyển giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại Điều 236 Luật đất đai 2024 có nhiều điểm mới so với Điều 203 Luật đất đai 2013. * Thẩm quyền của Tòa án nhân dân Điều 236 Luật Đất đai năm 2024 ghi nhận thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án, cụ thể là: “ Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về tài sản gắn liền với đất và tranh chấp đất đai khi các bên có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các loại giấy tờ liên quan. Đối với tranh chấp mà đương sự không có Giấy chứng nhận, các bên có thể lựa chọn giải quyết tại Tòa án hoặc UBND cấp có thẩm quyền .”  Quy định này làm rõ hơn về các loại Giấy chứng nhận cần thiết mà các bên tranh chấp phải có và có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền giải quyết, khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trong thụ lý giải quyết tranh chấp đất đai. Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2024 vẫn chưa có quy định cụ thể cho trường hợp một bên lựa chọn Tòa án và một bên lựa chọn UBND cấp có thẩm quyền thì cơ quan nào mới là cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Ngoài ra, khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai 2024 quy định về loại đất tranh chấp mà các bên chưa có bất cứ loại giấy tờ gì cũng thuộc thẩm quyền của tòa án dân sự là đã trao vượt quá chức năng, thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp đối với loại đất này, chưa cần đánh giá về hiệu quả giải quyết tranh chấp (từ chỗ chỉ có quyền xác định ai là người có quyền dân sự đang bị người khác tranh chấp nay có thêm quyền xác định ai là người được quyền sử dụng đất chưa có căn cứ pháp luật, chưa được công nhận về pháp lý mà vốn dĩ thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước) sẽ là một phức tạp lớn, xác suất sai sót khi tòa án giải quyết tranh chấp sẽ cao hơn. Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì chỉ những tài sản đã thuộc quyền sở hữu hợp pháp của một chủ thể, nay có chủ thể khác xâm phạm, tranh chấp thì tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ để xác định thực chất tài sản đó là của chủ thể nào thì công nhận cho chủ thể đóm buộc bên đang chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho bên có quyền chứ Tòa dân sự không có quyền ban phát quyền, lợi ích cho bất kỳ bên nào. Tòa án không có thẩm quyền xác định tài sản tranh chấp (đất đai) cho bất cứ chủ thể nào khi đất đai chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chủ thể đó sử dụng. Việc giao thẩm quyền giải quyết cho tòa án trong trường hợp này là không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tòa án, là trái quy định Hiến pháp và mâu thuẫn với chính quy định của Luật Đất đai về tính thống nhất trong quản lý đất đai.   * Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền Khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai năm 2024 ghi nhận thẩm quyền của Ủy ban Nhân dân các cấp trong giải quyết tranh chấp đất đai. Đối với các trường hợp tranh chấp mà đương sự không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ tương đương, các bên tranh chấp được lựa chọn giải quyết tại UBND cấp có thẩm quyền. Cụ thể, Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; còn Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết tranh chấp có một bên là tổ chức, tổ chức tôn giáo, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Để đảm bảo quyền lợi của đương sự và nâng cao trách nhiệm của Chủ tịch UBND, Luật Đất đai năm 2024 bổ sung quy định về thời hạn đương sự được quyển khởi kiện hoặc khiếu nại quyết định giải quyết tranh chấp (trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được quyết định). Nếu hết thời hạn này mà đương sự không khởi kiện hoặc khiếu nại, quyết định sẽ có hiệu lực thi hành. Ngoài ra, khoản 4 Điều 236 cũng bổ sung quy định về thời hạn thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định có hiệu lực của Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Sau 30 ngày kể từ khi quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực mà các bên không chấp hành, sẽ bị cưỡng chế thi hành. Chủ tịch UBND cấp huyện nơi có đất tranh chấp sẽ ban hành quyết định cưỡng chế và tổ chức thực hiện. Những quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết dứt điểm các tranh chấp đất đai. Khoản 6 Điều 236 bổ sung quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất đai để làm căn cứ cho giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án, Trọng tài thương mại Việt Nam khi được cơ quan này yêu cầu.   * Thẩm quyền của trọng tài thương mại Khoản 5 Điều 236 Luật đất đai 2024 đã bổ sung thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan đến đất đai: “ Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan đến đất đai do tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc do Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại ”. Việc bổ sung trọng tài là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan đến đất đai là phù hợp với thực tiễn và thật sự cần thiết. Theo luật định, quy trình giải quyết tại tòa án thường diễn ra qua hai cấp xét xử: xét xử lần đầu ở cấp sơ thẩm và nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị, vụ việc sẽ được đưa lên cấp phúc thẩm. Ngược lại, nếu không có kháng cáo hoặc kháng nghị, bản án sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật và được thi hành sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Khi giải quyết tranh chấp qua trọng tài, phán quyết của trọng tài là chung thẩm, tức là chỉ có một cấp xét xử. Phán quyết của trọng tài sẽ được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Do đó, việc mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai cho trọng tài thương mại sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý tranh chấp và giảm bớt khối lượng công việc. Tuy nhiên, nếu theo quy định này thì trọng tài thương mại chỉ có thẩm quyền thụ lý đối với tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan đến đất đai. Vậy theo Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “ Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác . ” Như vậy có thể hiểu rằng, hoạt động thương mại liên quan đến đất đai là các hoạt động đầu tư, góp vốn đầu tư, buôn bán, kinh doanh bất động sản, tài sản gắn liền với đất, quyền sử dụng đất... nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan đến đất đai có thể hiểu là những bất đồng giữa các bên hợp tác với nhau về quyền và nghĩa vụ trong quá trình tiến hành các hoạt động liên quan đến đất đai nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Để đảm bảo sự thống nhất trong quá trình lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp và phát huy tốt vai trò của Trọng tài thương mại, cần có văn bản hướng dẫn về việc xác định những loại tranh chấp này. Công ty Luật Barrisco Việt Nam  chuyên gia giải quyết tranh chấp đất đai các loại, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế .... SĐT: 08226894333 (LS Hoàng). Thu Trang

  • Mẫu đơn khởi kiện

    Điều 189 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 quy định về "Hình thức, nội dung đơn khởi kiện" như sau: " 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi kiện. 2. Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân được thực hiện như sau: a) Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ; b) Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ; c) Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng. Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện. 3. Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp . 4. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện; c) Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó; d) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có); đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện; e) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; g) Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có); i) Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện. 5. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. "

  • Đòi lại công lý cho người dân nghe lời dụ dỗ của kẻ lạ để cầm cố nhà.

    Năm 2019, chúng tôi nhận được lời mời bà Thái tại Hoài Đức, Hà Nội đề nghị tham gia giải quyết vụ tranh chấp hợp đồng thế chấp với ngân hàng VP bank. Gặp Luật sư bà Thái cho biết: Gia đình bà Thái là gia đình hộ nghèo ở địa phương, năm 2014 có quen biết 1 nhà hảo tâm tên Phương tới trao tặng 1 đôi lợn để giúp bà Thái phát triển kinh tế. Anh Phương thường xuyên tới lui thăm nhà và quà cáp, cùng năm anh Phương đề nghị bà Thái cho mượn sổ đỏ nhà để làm tài sản thế chấp cho ngân hàng, khoản vay sẽ do bạn anh Phương là Quỳnh đứng tên và chịu hoàn toàn trách nhiệm. Đổi lại anh Quỳnh hỗ trợ bà Thái 20tr coi như quà cảm ơn cùng lời cam kết sau 2 năm sẽ trả lại sổ nguyên vẹn. Khi bà Thái tìm tới chúng tôi, Phương và Quỳnh đều không còn ở địa phương, quyền sử dụng đất của bà Thái tại ngân hàng đang bị đề nghị phát mại do Quỳnh vi phạm nghĩa vụ vay. Hoàn cảnh của bà Thái là vấn đề đang gặp phải của không ít bộ phận người dân nhẹ dạ cả tin khi bị kẻ gian lợi dụng quy định chưa chặt trẽ trong quản lý Ngân hàng hòng chiếm đoạt tài sản. Nhận định vụ án: việc bà Thái đồng ý và ký hợp đồng bảo đảm cho khoản vay của Quỳnh tại Ngân hàng thông qua giới thiệu của Phương là giao dịch được pháp luật cho phép. Việc Ngân hàng đề nghị phát mại tài sản bảo đảm là không sai. Tuy nhiên cần xem xét bà Thái có hiểu rõ vấn đề và đồng ý ký hợp đồng trực tiếp tại Ngân hàng hay không? Ngân hàng đã thực hiện thủ tục cần thiết về thẩm định tài sản bảo đảm hay không? Giao dịch có dấu hiệu bị lừa dối hay không? Có dấu hiệu của tội hình sự hay không là những nội dung cần được thu thập và đánh giá. Từ những dữ kiện được tổng hợp nêu trên chúng tôi tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ chúng tôi đồng thời khởi kiện nhằm đòi lại công bằng cho bà Thái. May mắn trong vụ án Bà Thái còn giữ lại 01 văn bản cam kết của Quỳnh và Phương về việc “chịu hoàn toàn trách nhiệm khoản vay, việc thế chấp quyền sử dụng đất của bà Thái chỉ nhằm hoàn tất về mặt thủ tục vay tiền”; Đánh giá đây chính là tình tiết gian dối mà Phương và Quỳnh đưa ra nhằm lừa dối bà Thái về trách nhiệm đối với khoản vay. Mặt khác ngân hàng là bên nhận bảo đảm cùng không thực thiện thẩm định tài sản theo quy định, không giải thích cho bà Thái (người chỉ có trình độ học vấn 2/10 về giao dịch bảo đảm của mình). Sau 4 năm đấu tranh với nhiều tranh cãi, nay Tòa án tuyên giao dịch bảo đảm giữa bà Thái và Ngân hàng là vô hiệu do có dấu hiệu gian dối. Quỳnh có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ và lãi đối với Ngân hàng. Bài học về sự nhẹ dạ cả tin về quyết định trước khi đưa ra quyết định về việc giao tài sản cho người khác cần cân nhắc thật kỹ do không phải trường hợp nào cũng tìm được tờ cam kết với nội dung trọng tâm để khai thác và đòi quyền lợi như vụ án của bà Thái. Đòi lại công lý cho người dân Luât sư Barrisco

  • Thời hiệu khởi kiện trong vụ án dân sự.

    Chúng ta đã được biết BLDS năm 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện như sau: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện” . Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Cụ thể thời hiệu khởi kiện đối với một số tranh chấp điển hình có thể kể tới gồm: -      Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. -       Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. -       Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. -       Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (Theo quy định tại Điều 588 của BLDS năm 2015). -        Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu đối với giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện;[2] giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn; [3] giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; [4] giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình và [5] giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức là 02 năm (Điều 132 của BLDS năm 2015). -         Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.            Ngoài ra mỗi trường hợp cá biệt sẽ có quy định về thời hiệu và cách áp dụng cụ thể, tuy nhiên sau khi hết thời hiệu khởi kiện nêu trên một trong các bên bị xâm phạm không khởi kiện thì đồng nghĩa với việc mất quyền khởi kiện.            Vậy thời điểm nào nên khởi kiện để không gặp bất lợi, sau đây chúng ta cùng trao đổi với Luật sư Nguyễn Như Hoàng – Giám đốc điều hành công ty Luật Barrisco để hiểu thêm chi tiết: Hỏi:  Thưa luật sư Nguyễn Như Hoàng, ông cho biết vì sao phải quy định về thời hiệu trong giải quyết vụ việc dân sự? Đáp : Như chúng ta đã biết, pháp luật luôn công bằng trong việc công nhận hay không công nhận các giao dịch dân sự. Pháp luật cho phép chúng ta được quyền tự do giao kết, giao dịch trên tinh thần không vi phạm điều cấm của pháp luật. Tuy nhiên không thể tránh khỏi việc đôi khi do thiếu hiểu biết về quy định mà chúng ta vi phạm về hình thức thực hiện giao dịch dân sự hay một sự việc phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại đã diễn ra từ lâu. Không ai phải chịu trách nhiệm cả đời về 1 sai lầm nhỏ trong giao dịch dân sự. Do đó pháp luật đã quy định về “Thời hiệu khởi kiện” theo đó bên bị vi phạm chỉ có một khoảng thời gian hợp lý để yêu cầu Tòa án đòi lại quyền lợi cho mình. Sau khoảng thời gian cho phép đó nếu bên bị vi phạm không có yêu cầu hoặc không có động thái về việc đòi lại quyền lợi thì có thể hiểu họ không quan tâm tới tranh chấp đó hay họ đã từ bỏ quyền lợi của chính mình. Hỏi :  Theo luật sư, nên khởi kiện ở thời điểm nào để không gặp bất lợi về thời hiệu? Đáp : Thông thường khi phát hiện quyền lợi của mình bị xâm phạm, đa phần chúng ta sẽ giải quyết thông qua đàm phán, theo đó bên xâm phạm có thể lợi dụng việc đàm phán để kéo dài thời gian giải quyết bằng nhiều lý do cho tới khi hết thời hiệu hoặc cận kề thời hiệu để né tránh nghĩa vụ. Bên bị xâm phạm quyền lợi có thể bỏ quên quyền khởi kiện của mình tới khi chúng ta nhận ra việc đàm phán chỉ là chiêu trò mới khởi kiện thì đã quá muộn. Theo tôi việc đàm phán phải dứt khoát và quyết đoán, kéo dài chỉ thêm bất lợi. Nếu việc đàm phán không hiệu quả, đối phương không có thiện trí giải quyết thì phải khởi kiện ngay để tránh gặp bất lợi về thời hiệu khởi kiện. Hỏi:  Luật sư có gợi ý gì cho chủ thể bị xâm phạm quyền lợi trong trường hợp thời hiệu khởi kiện đã hết hay không? Đáp:  Khi thời hiệu đã hết vụ việc gần như đã rơi vào thế bất lợi để tránh đi vào ngõ cụt người bị vi phạm cần áp dụng các biện pháp để lấy lại thời hiệu hoặc phải lý do chính đáng để không tính thời hiệu nhằm tăng cơ hội cho chính mình nếu không vụ án có thể bị đình chỉ do phía đối tụng yêu cầu áp dụng thời hiệu. Xin cảm ơn ý kiến chia sẻ của Luật sư Hoàng về thời hiệu và những lưu ý khi áp dụng thời hiệu.            Trên đây là nhận định của chúng tôi về thời hiệu khởi kiện trong vụ án dân sự cũng như trao đổi quan điểm về thời hiệu với Luật sư. Để hiểu hơn về thời hiệu hay thời gian giải quyết vụ án quý độc giả có thể liên hệ tìm gặp Luật sư Nguyễn Như Hoàng tại địa chỉ: Công Ty Luật TNHH Barrisco Hotline: Luật sư Hoàng  0822689333 Website: https://www.luatbarrisco.com/ Email: Barriscolawfirm@gmail.com Địa chỉ: Liền kề 88 Ngõ 6 P.Nguyễn Văn Lộc, Ph.Mộ Lao, Q.Hà Đông, TP.Hà Nội.

  • Đòi nợ như thế nào cho hợp pháp?

    Đòi nợ như thế nào cho hợp pháp? Người vay tiền không còn khả năng chi trả thì người thân có phải trả nợ thay hay không? Là những câu hỏi barrisco thường xuyên nhận được trong thời gian gần đây, để giải đáp các thắc mắc chúng tôi có nhận định như sau: Cho vay tiền là một giao dịch dân sự phổ biến, theo đó, bên cho vay giao tiền cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay số tiền đã vay và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Tuy nhiên không phải người vay tiền nào cũng trả tiền đúng hạn theo thỏa thuận, trường hợp này có thể do không đủ khả năng chi trả hoặc người vay cố tình không trả buộc người cho vay phải tìm nhiều cách khác nhau nhằm thu hồi nợ, trong đó có cả những cách bị pháp luật nghiêm cấm như dùng vũ lực đe dọa người vay tiền, tạt sơn vào nhà, nhắn tin khủng bố hay thuê bên thứ 3 để đòi nợ. Thực tế cho thấy, ranh giới giữa đòi nợ hợp pháp và không hợp pháp là rất mong manh, nhiều vụ án hình sự liên quan đến đòi nợ không thành đã xảy ra một phần nguyên nhân xuất phát việc hiểu biết pháp luật chưa đầy đủ và chưa biết cách đòi nợ sao cho hợp tình, hợp lý. Nếu việc cho vay tiền là hợp pháp, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả đầy đủ khoản nợ gốc và lãi còn thiếu. Bước đầu các bên có thể tiếp tục thỏa thuận trên tinh thần thiện chí, tự nguyện để tìm ra hướng giải quyết cho vấn đề, người cho vay có thể tham khảo các hướng giải quyết sau: - Liên lạc trực tiếp: Gặp gỡ trực tiếp người vay tiền để trao đổi về khoản vay và tìm kiếm giải pháp thanh toán. - Gửi thông báo nhắc nhở: Gửi thông báo bằng văn bản (email, tin nhắn, thư) nhắc nhở người vay tiền về khoản vay và thời hạn thanh toán. - Thương lượng phương án thanh toán: Trao đổi với người vay tiền để thống nhất phương án thanh toán phù hợp cho cả hai bên (thời hạn trả nợ, số tiền trả mỗi lần, ...). Trường hợp bên vay tiền cố ý không trả nợ, không hợp tác thương lượng về khoản vay hay có những dấu hiệu bất thường như trốn tránh, rời khỏi nơi cư trú,... thì người cho vay có thể nhờ sự can thiệp của cơ quan công an để bảo vệ quyền lợi của mình. Ngoài ra, bên cho vay có quyền khởi kiện bên vay ra tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Theo Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người cho vay tiền có thể khởi kiện bằng cách gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ về việc cho vay tiền đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây: - Nộp trực tiếp tại Tòa án - Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính; - Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có). + Người khởi kiện phải truy cập vào Cổng thông tin điện tử của Tòa án điền đầy đủ nội dung đơn khởi kiện, ký điện tử và gửi đến Tòa án. + Tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện phải được gửi đến Tòa án qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án. * Lưu ý: - Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người cho vay tiền có thể gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người vay cư trú hoặc làm việc (nơi tạm trú hoặc thường trú). - Một số tài liệu, giấy tờ người cho vay cần phải chuẩn bị cho việc khởi kiện bên cạnh đơn khởi kiện: + Hợp đồng vay tiền, giấy tờ xác nhận việc cho vay theo quy định của pháp luật, tin nhắn, email xác nhận việc cho vay,... + Giấy tờ tùy thân như chứng minh nhân dân, hộ chiếu, căn cước công dân, sổ hộ khẩu… của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan… (Bản sao công chứng) - Các tài liệu, chứng cứ khác,... Người cho vay tiền cần cần hết sức kiềm chế, lựa chọn các biện pháp hợp lý và hợp pháp để đòi nợ, tránh bị rơi vào tình huống đi đòi nợ trái pháp luật, có thể kể đến một số hành vi trái pháp luật khi thực hiện đòi nợ thường thấy như: - Hành hung, đánh đập người vay tiền, hành vi đánh đập người vay tiền có thể bị xử lý với tội danh cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017). Trường hợp xông vào nhà người vay tiền để đòi nợ có thể bị coi là tội phạm xâm phạm chỗ ở của người khác theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 31 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017). - Tạt sơn vào nhà người vay tiền, hành vi này có thể có thể bị xử lý hình sự với tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015. Nếu hành vi tạt sơn chưa đến mức xử lý hình sự, người có hành vi tạt sơn có thể bị phạt hành chính và thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả kèm theo. - Đăng thông tin, hình ảnh người vay tiền lên mạng xã hội để làm nhục, xúc phạm. Pháp luật dân sự có quy định cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. + Hành vi đưa ảnh, thông tin của người vay tiền lên mạng xã hội mà không được sự đồng ý của người đó sẽ bị xử lý hành chính và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017). Như đã phân tích, việc cho vay tiền là giao dịch dân sự, là sự thỏa thuận giữa bên vay và bên cho vay, người thân của bên vay tiền không có nghĩa vụ phải trả nợ thay khi người vay không trả nợ trừ trường hợp hợp người thân của bên vay tiền có cam kết bảo lãnh theo quy định tại Điều 335 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Khi đó, người thân của người vay tiền có nghĩa vụ phải trả nợ thay trong trường hợp người vay tiền không trả nợ hay không còn khả năng chi trả. Đòi nợ như thế nào cho hợp pháp? Những tin nhắn vay tiền, tin nhắn đòi nợ có làm cắn cứ khởi kiện người vay tiền được không? Theo Điều 94 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về nguồn chứng cứ như sau: Nguồn chứng cứ Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây: 1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử. Đồng thời theo quy định tại khoản 3 Điều 95 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau: Xác định chứng cứ 3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Như vậy, những tin nhắn vay tiền, tin nhắn đòi nợ có thể hiện xác nhận số nợ và cam kết thời gian trả của người vay nợ có thể được dùng làm chứng cứ để làm căn cứ khởi kiện. Mẫu đơn khởi kiện người vay tiền không trả gửi Tòa án như thế nào? Đơn khởi kiện người vay tiền không trả có thể được áp dụng theo Mẫu số 23-DS ban hành kèm theo Nghị quyết 01/ 2017/NQ-HĐTP Công ty Luật Barrisco Việt Nam  hỗ trợ giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tiền, tranh chấp đất đai, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế .... SĐT: 08226894333 (LS Hoàng).

  • Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai

    Các dạng tranh chấp đất đai hiện nay bao gồm những gì? Điều kiện khởi kiện tranh chấp đất đai là gì? Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thuộc về cơ quan nào? Thủ tục khởi kiện tranh chấp đất đai gồm những bước nào? Thời hiệu khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai là bao lâu? Án phí khi khởi kiện giải quyết tranh chấp đất đai là bao nhiêu tiền? Bài viết dưới đây, Luật Barrisco sẽ cung cấp đến bạn đầy đủ thông tin về tranh chấp đất đai để bạn có thể tham khảo. ________________________________________ Tổng quan về bài viết "Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai" 1. Các dạng tranh chấp đất đai Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai. Hiện nay, có ba dạng tranh chấp chủ yếu bao gồm: 1.1. Dạng 1: Tranh chấp về quyền sử dụng đất Đây là dạng tranh chấp giữa các bên về việc ai có quyền sử dụng hợp pháp với một mảnh đất nào đó. Dạng tranh chấp này thường gặp dưới các loại tranh chấp như sau: Tranh chấp giữa những người sử dụng chung ranh giới giữa các vùng đất, có thể là tranh chấp ngõ đi hay ranh giới đất liền kề. Tranh chấp đòi lại đất hoặc tài sản gắn liền với đất trong quan hệ thừa kế; quan hệ ly hôn giữa vợ và chồng. Tranh chấp về đòi lại đất, tài sản gắn liền với đất của người thân trong những giai đoạn trước đây mà qua các cuộc điều chỉnh ruộng đất đã được chia cấp cho người khác. Tranh chấp giữa đồng bào dân tộc địa phương với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới; giữa đồng bào địa phương với các nông trường, lâm trường và các tổ chức sử dụng đất khác. 1.2. Dạng 2: Tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất Dạng tranh chấp này thường xảy ra khi các chủ thể có những giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất mà một bên vi phạm, làm cản trở việc thực hiện quyền của bên kia hoặc một bên không làm đúng nghĩa vụ của mình cũng làm phát sinh tranh chấp. Thông thường các loại tranh chấp như sau: Tranh chấp về việc bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. 1.4. Dạng 3: Tranh chấp về mục đích sử dụng đất Nhà nước phân loại đất đai và yêu cầu người quản lý, người sử dụng đất phải tuân thủ đúng mục đích sử dụng đất với thửa đất đó. Tranh chấp về mục đích sử dụng đất phát sinh khi người sử dụng đất sử dụng đất sai mục đích so với khi Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất. ________________________________________ 2. Điều kiện khởi kiện tranh chấp đất đai Pháp luật không có quy định riêng về điều kiện khởi kiện tranh chấp đất đai, tuy nhiên, căn cứ theo Bộ luật Tố tụng dân sự, người khởi kiện cần đáp ứng các điều kiện sau để thực hiện khởi kiện vụ án tranh chấp: Thứ nhất, người khởi kiện có quyền khởi kiện: Pháp luật Tố tụng dân sự có quy định về quyền khởi kiện vụ án như sau: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì thế, việc khởi kiện giải quyết tranh chấp đất đai do người khởi kiện tự thực hiện hoặc thông qua người đại diện hợp pháp. Thứ hai, thuộc thẩm quyền của Toà án theo loại việc: Tranh chấp đất đai theo quy định pháp luật đất đai là một trong những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Toà án. Các tranh chấp liên quan đến đất đai bao gồm: Tranh chấp về giao dịch liên quan tới quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất,…thì áp dụng quy định của pháp luật Dân sự để giải quyết. Thứ ba, tranh chấp chưa được giải quyết: Pháp luật về Tố tụng dân sự quy định Toà án chỉ thụ lý đơn khởi kiện tranh chấp đất đai nếu tranh chấp đó chưa được giải quyết, cụ thể như sau: Tranh chấp đất đai chưa được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực của Tòa án. Chưa được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: Tranh chấp đất đai mà chưa được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện, cấp tỉnh. Thứ tư, phải được hoà giải tại UBND cấp xã: Tranh chấp về việc xác định người có quyền sử dụng đất do đó các bên phải thông qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã. Trường hợp hòa giải tại UBND cấp xã mà không thành thì mới có thể lựa chọn khởi kiện tại Tòa án hoặc yêu cầu UBND cấp huyện giải quyết. ________________________________________ 3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở. Trong trường hợp hoà giải không thành thì có thể gửi đơn khởi kiện Toà án nhân dân cấp huyện nơi có bất động sản tranh chấp. Pháp luật về đất đai có quy định Toà án nhân dân giải quyết các tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất. Trong trường hợp tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; Trong trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. ________________________________________ 4. Thủ tục khởi kiện tranh chấp đất đai Thứ nhất, thủ tục bắt buộc là hoà giải. Căn cứ theo khoản 2, Điều 202, Luật Đất đai 2013 khi mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Sau khi hòa giải tranh chấp đất đai ở UBND cấp xã thì sẽ xảy ra 01 trong 02 trường hợp sau: 4.1. Trường hợp 1: Hòa giải thành Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về hòa giải thành hoặc hòa giải không thành. Biên bản hoà giải được gửi tới các bên tranh chấp, lưu tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có tranh chấp. Nếu có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường. Phòng Tài nguyên và Môi trường trình UBND cấp huyện quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Sổ đỏ cho hộ gia đình, cá nhân. 4.2. Trường hợp 2: Hòa giải không thành Tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai thì chỉ được chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai như sau: 4.2.1. Hình thức 1: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. Sau khi nhận được quyết định giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu của người có thẩm quyền mà các bên hoặc một trong các bên tranh chấp không đồng ý với quyết định giải quyết thì phải gửi đơn đề nghị giải quyết tranh chấp lần hai đến người có thẩm quyền. Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu hoặc không quá 45 ngày đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn mà các bên hoặc một trong các bên tranh chấp không có đơn gửi người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai lần hai thì quyết định giải quyết tranh chấp lần đầu có hiệu lực thi hành. 4.2.2. Hình thức 2: Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự Thông thường, người khởi kiện có thể nộp tại Tòa án nơi có bất động sản đang tranh chấp theo thủ tục tố tụng. Khi khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai, người khởi kiện phải đáp ứng những điều kiện sau: Người khởi kiện có quyền khởi kiện. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo loại việc. Tranh chấp chưa được giải quyết bằng bản án có hiệu lực của Toà án, UBND huyện, tỉnh. Tranh chấp đã được hòa giải tại UBND cấp xã. Sau khi hoà giải không thành thì sẽ chuẩn bị hồ sơ khởi kiện tranh chấp đất đai. Nội dung cụ thể của hồ sơ khởi kiện vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất bao gồm những giấy tờ sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc một trong các giấy tờ theo quy định pháp luật Đất đai; Giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15/10/1993 do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính; Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993 nay được ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng đất trước ngày 15/10/2003; Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất; Bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án; quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành; Các giấy tờ xác nhận của cơ quan có thẩm quyền: Quyết định cấp đất. bản án, quyết định của Tòa án… ( Trong trường hợp chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); Các biên bản giải quyết của cơ quan chức năng… Biên bản hòa giải tại xã, phường. Thứ ba, nộp đơn khởi kiện tranh chấp đất đai bao gồm các hình thức như: Nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc Nộp đơn khởi kiện tới Tòa án qua đường bưu điện và vấn đề nộp tiền tạm ứng án phí. Thứ tư, thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử: Sau khi nhận được đơn khởi kiện tranh chấp đất đai và hồ sơ kèm theo, nếu vụ án đáp ứng được các điều kiện khởi kiện thì thẩm phán được phân công thông báo cho người khởi kiện biết để thực hiện thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí tại cơ quan nhà nước rồi đem biên lai nộp lại cho Tòa án. Sau khi người khởi kiện hoàn thành nghĩa vụ tài chính ban đầu, thẩm phán sẽ ra thông báo thụ lý vụ án và gửi thông báo cho các bên liên quan để biết về việc khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai và thực hiện các thủ tục tố tụng tiếp theo để giải quyết vụ án. Các hoạt động tố tụng sẽ chủ yếu tập trung trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán sẽ tiến hành một số công việc như: Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án; Xác minh, thu thập chứng cứ cần cần thiết phục vụ cho việc giải quyết vụ án và theo yêu cầu của đương sự; Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật. Thủ tục khởi kiện tranh chấp đất đai Thứ năm, mở phiên Toà xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai. Nếu trong trường hợp các bên không hoà giải được trong quá trình giải quyết tranh chấp cũng như tại phiên họp hoà giải thì Toà án mở phiên toà xét xử. Khi khai mạc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, giải thích quyền nghĩa vụ các đương sự tham gia phiên tòa, giải quyết các yêu cầu thay đổi người tham gia tố tụng, giải quyết việc thay đổi, rút yêu cầu giải quyết vụ án trước khi đi vào nội dung căn bản của phiên toà. Bước tiếp theo là tranh tụng tại phiên tòa: Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án tranh chấp đất đai. Bước cuối trong phiên tòa là nghị án và tuyên án: Chỉ có các thành viên Hội đồng xét xử mới có quyền nghị án dựa trên những tài liệu và chứng cứ được cung cấp. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán chủ toạ phiên toà biểu quyết sau cùng. Hội đồng xét xử sau đó tuyên đọc bản án với sự có mặt của các đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức và cá nhân khởi kiện. Thứ sáu, thủ tục kháng cáo (nếu có): Kháng cáo là hành vi tố tụng sau khi xử sơ thẩm, nếu đương sự không đồng ý với phán quyết của tòa sơ thẩm thì có yêu cầu tòa cấp trên xét xử một lần nữa theo trình tự phúc thẩm. Thủ tục kháng cáo bao gồm: Đầu tiên, chuẩn bị hồ sơ kháng cáo: Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ kháng cáo bao gồm đơn kháng cáo và các tài liệu, chứng cứ liên quan. Đơn kháng cáo bao gồm: Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo; Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo; Kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo; Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo. Thứ hai, trình tự kháng cáo : Trình tự kháng cáo bản án tranh chấp đất đai sơ thẩm theo quy định pháp luật như sau: Bước 1 : Người kháng cáo làm đơn kháng cáo. Bước 2 : Gửi đơn kháng cáo hoặc kháng cáo trực tiếp đến Tòa án xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm. Bước 3: Tòa án tiếp nhận và xử lý đơn: •            Tòa án cấp phúc thẩm đã tiếp nhận đơn thì phải gửi đơn kháng cáo đến cho Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử để thực hiện thủ tục theo quy định; •            Tòa án cấp sơ thẩm sau khi tiếp nhận được đơn kháng cáo phải tiến hành thủ tục vào sổ tiếp nhận và tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo. Bước 4 : Tòa án chấp nhận đơn kháng cáo hoặc yêu cầu đương sự bổ sung hoặc trả lại đơn kháng cáo nếu có căn cứ theo quy định pháp luật. Thứ bảy, thủ tục chuẩn bị xét xử phúc thẩm: Sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kháng cáo và kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Toà án phúc thẩm phải vào sổ thụ lý, thông báo bằng văn bản cho các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án. Chánh án Toà án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà. Toà đưa ra quyết định tạm đình chỉ xét xử, đình chỉ xét xử hoặc đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Thứ tám, phiên Tòa xét xử phúc thẩm vụ án tranh chấp đất đai: Trường hợp Tòa quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì phiên tòa diễn ra theo đúng thủ tục bao gồm: thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục hỏi các đương sự, thủ tục tranh luận, thủ tục nghị án và tuyên án. Khai mạc phiên tòa phúc thẩm và thủ tục phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định pháp luật. Hỏi về việc kháng cáo: một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm công bố nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo. Tòa án sẽ hỏi nguyên đơn có rút đơn khởi kiện hay không, hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Công nhận sự thỏa thuận của các bên: nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử công nhận thỏa thuận đó và dựa trên đó đưa ra bản án phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm. Trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau thì phiên tòa được tiến hành theo thủ tục gồm phần tranh tụng giữa nguyên đơn, bị đơn. Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm: Trình bày về kháng cáo, hỏi và tranh tụng tại phiên tòa: Trình bày về kháng cáo: Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người kháng cáo có quyền trình bày, người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến. Hỏi và công bố tài liệu, chứng cứ: thủ tục hỏi những người tham gia tố tụng và công bố tài liệu, chứng cứ,… được thực hiện như tại phiên tòa sơ thẩm. Tranh luận: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tranh luận, đối đáp, đương sự có quyền bổ sung ý kiến. Nghị án và tuyên án khi xét xử phúc thẩm: Việc nghị án, trở lại việc hỏi và tranh luận, thời gian nghị án, tuyên án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện như thủ tục xét xử sơ thẩm. ________________________________________ 5. Thời hiệu khởi kiện đất đai Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định. Thời hiệu khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp luật quy định khác. Đối với tranh chấp dân sự mà văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thời hiệu khởi kiện thì áp dụng thời hiệu khởi kiện được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật đó. Từ đó cho thấy: Đối với tranh chấp dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự (hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất) thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Đối với tranh chấp đất đai là di sản thừa kế thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. ________________________________________ 6. Án phí khi khởi kiện giải quyết tranh chấp đất đai Khi khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai, người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí và tuỳ vào kết quả xét xử sẽ biết ai phải chịu án phí. Pháp luật dân sự có quy định khái niệm vụ án dân sự không có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự không là một số tiền hoặc là tài sản không thể xác định được bằng một số tiền cụ thể. Trường hợp không yêu cầu xác định giá trị tài sản mà chỉ yêu cầu xem xét quyền sở hữu mảnh đất thì mức án phí đối với trường hợp vụ án không có giá ngạch là 300.000 đồng. Trong trường hợp có yêu cầu Tòa án xác định giá trị tài sản thì mức án phí được xác định như sau: Từ 6.000.000 đồng trở xuống thì mức án phí phải nộp cho Tòa là 300.000 đồng Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng thì mức án phí là 5% giá trị tài sản có tranh chấp Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng mức án phí là 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng thì mức án phí là 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng Tài sản có giá trị từ 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng thì mức án phí phải nộp là 72.000.000.000.000 đồng thì mức án phí là 112.000.000 đồng + 0.1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng. ________________________________________ 7. Cơ sở pháp lý Luật Đất đai 2024; Luật Tố tụng dân sự 2015; Luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 101/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn Quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi theo Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành; ________________________________________ Trên đây là toàn bộ nội dung hướng dẫn của chúng tôi về khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất. Qua bài viết, chúng tôi hy vọng bạn có thể hiểu rõ hơn về những vấn đề liên quan. Luật Barrisco là công ty có kinh nghiệm không chỉ trong việc tư vấn pháp luật về vấn đề tranh chấp đất đai mà còn có bề dày kinh nghiệm trong vai trò là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng khi gặp phải những vấn đề pháp lý khi góp vốn bằng hình thức này trong phạm vi cả nước. Công Ty Luật TNHH Barrisco Hotline: Luật sư Hoàng  0822689333 Website: https://www.luatbarrisco.com/ Email: Barriscolawfirm@gmail.com Địa chỉ KV phía Bắc : Liền kề 88 Ngõ 6 P.Nguyễn Văn Lộc, Ph.Mộ Lao, Q.Hà Đông, TP.Hà Nội Địa chỉ KV Phía Nam: Phòng 203, số 171 đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Phú, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh.

  • Thời gian giải quyết tranh chấp đất đai là bao lâu?

    Thời gian giải quyết tranh chấp đất đai phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quá trình giải quyết tranh chấp đất tại địa phương, kết quả hòa giải đối thoại tại tòa án, tính chất của vụ án và quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ. Ngoài ra thời gian cũng phụ thuộc khá nhiều vào thời hạn chuẩn bị xét xử hay thời gian mà Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định cho Tòa án giải quyết vụ án, căn cứ vào tính chất của từng vụ án để xác định thời hạn. Trong thực tiễn thời hạn  chuẩn bị xét xử cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015, thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau: - Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; - Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của BLTTDS thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 203. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Lập hồ sơ vụ án; Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác; Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng; Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án; Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Đưa vụ án ra xét xử. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. Tại khoản 3 Điều 14 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai  “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm”  của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS:  “Những vụ án có tính chất phức tạp”  là những vụ án có nhiều đương sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹ thuật phức tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài… Tuy nhiên, đối với trường hợp cần phải chờ ý kiến của các cơ quan chuyên môn, cần phải chờ kết quả giám định kỹ thuật phức tạp hoặc cần phải chờ kết quả uỷ thác tư pháp mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử (kể cả thời gian gia hạn), thì Thẩm phán có thể ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Như vậy trong trường hợp điều kiện bình thường, không phát sinh sự kiện khách quan hoặc vụ án có tính chất phực tạp, thời gian chuẩn bị xét xử là 4 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Công ty Luật Barrisco Việt Nam  hỗ trợ giải quyết tranh chấp đất đai, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế .... SĐT: 08226894333 (LS Hoàng).

  • Thủ tục ly hôn đơn phương

    (1) Được yêu cầu ly hôn đơn phương trong trường hợp nào? Căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014  thì cá nhân giải quyết yêu cầu ly hôn đơn phương khi thuộc một trong những trường hợp như sau: - Có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình. - Vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. - Vợ/ chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu. - Trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014  thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia. Như vậy, nếu thuộc một trong những trường hợp như đã nêu trên thì cá nhân có thể yêu cầu ly hôn đơn phương. (2)  Hồ sơ yêu cầu ly hôn đơn phương 2024 Người có nguyện vọng ly hôn đơn phương cần chuẩn bị 01 bộ hồ sơ bao gồm những giấy tờ như sau: - Đơn xin ly hôn đơn phương theo Mẫu 23-DS  được ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP . - Bản chính đăng ký kết hôn. - Một trong những giấy tờ có giá trị chứng minh thông tin cư trú của cá nhân như: Thẻ CCCD/CMND, Giấy xác nhận thông tin về cư trú, Giấy thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.  - Bản sao CMND/CCCD của cả vợ và chồng. Trường hợp nếu đã có con chung, thì cần bổ sung thêm bản sao giấy khai sinh của con. Nếu có tài sản chung cần phân chia thì cá nhân chuẩn bị thêm những giấy tờ chứng minh tài sản chung của vợ chồng. Bên cạnh đó, nếu cá nhân có chứng cứ chứng minh mình bị người vợ hoặc chồng bạo lực gia đình, không thực hiện nghĩa vụ…cũng cần cung cấp cho Tòa án. (3) T hủ tục ly hôn đơn phương 2024 Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ những giấy tờ như đã nêu tại mục (2), cá nhân thực hiện theo trình tự như sau: Bước 01:  Nộp đơn yêu cầu ly hôn đơn phương trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người bị yêu cầu ly hôn.  Tuy nhiên, tại đây cũng cần lưu ý trường hợp vụ án ly hôn có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài. Nếu cá nhân thuộc trường hợp này thì nộp đơn đến Tòa án nhân dân cấp tỉnh ( Điều 37 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 ). Bước 02: Sau khi đã tiếp nhận đơn yêu cầu ly hôn đơn phương. Thẩm phán sẽ dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho cá nhân để nộp tiền tạm ứng án phí. Theo đó, trong thời hạn là 07 ngày  tính từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí thì cá nhân nộp tiền tạm ứng án phí kèm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí. Nội dung này được quy định tại Điều 195 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 . Bước 03:  Theo đó, trong thời hạn là 03 ngày làm việc  tính từ ngày thụ lý vụ án, thẩm phán sẽ thông báo thụ lý vụ án bằng văn bản cho nguyên đơn và bị đơn. Đồng thời, phân công thẩm phán thụ lý vụ án. Bước 04: Tại bước này, Tòa án sẽ thực hiện thủ tục hòa giải, có 02 trường hợp như sau: Trường hợp hòa giải thành:  Tòa án sẽ lập biên bản và sau 07 ngày  nếu các đương sự không thay đổi về ý kiến thì Tòa án ra quyết định công nhận hòa giải thành và quyết định này có hiệu lực ngay và không được kháng cáo kháng nghị.  Trường hợp hòa giải không thành:  Tòa án lập biên bản sau đó ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bước 05:   Sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử các bên sẽ được Tòa án gửi giấy triệu tập và được thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên Tòa sơ thẩm và ban hành bản án giải quyết thủ tục ly hôn đơn phương. Công ty Luật Barrisco Việt Nam hỗ trợ giải quyết ly hôn nhanh, ly hôn có yếu tố nước ngoài, ly hôn có tranh chấp về con chung/tài sản chung.... SĐT: 08226894333

  • Mẫu đơn ly hôn

    Mẫu đơn ly hôn theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao Ngoài đơn xin ly hôn cần chuẩn bị thêm: Bản chính đăng ký kết hôn. Một trong những giấy tờ có giá trị chứng minh thông tin cư trú của cá nhân như: Thẻ CCCD/CMND, Giấy xác nhận thông tin về cư trú, Giấy thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.  Bản sao CMND/CCCD của cả vợ và chồng. Trường hợp nếu đã có con chung, thì cần bổ sung thêm bản sao giấy khai sinh của con. Nếu có tài sản chung cần phân chia thì cá nhân chuẩn bị thêm những giấy tờ chứng minh tài sản chung của vợ chồng. Bên cạnh đó, nếu cá nhân có chứng cứ chứng minh mình bị người vợ hoặc chồng bạo lực gia đình, không thực hiện nghĩa vụ…cũng cần cung cấp cho Tòa án. Công ty Luật Barrisco Việt Nam hướng dẫn viết đơn ly hôn, hỗ trợ giải quyết ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương, ly hôn có yếu tố nước ngoài...

  • Thủ tục khởi kiện và mẫu đơn khởi kiện dân sự

    THỦ TỤC KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ I. NHỮNG TRANH CHẤP DÂN SỰ THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN (Điều 25 Bộ Luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011) 1. Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam. 2. Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản. 3. Tranh chấp về hợp đồng dân sự. 4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp các bên đều có mục đích lợi nhuận. 5. Tranh chấp về thừa kế tài sản. 6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. 7. Tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai. 8. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật. 9. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. 10. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. 11. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. 12. Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định. II. QUYỀN, PHẠM VI KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ 1. Người khởi kiện phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự: - Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định. Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. - Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự. - Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác. - Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Toà án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. - Đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Toà án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. - Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Trong trường hợp này, Toà án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng. Đối với những việc khác, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ tại Toà án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. - Đương sự là cơ quan, tổ chức do người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng. 2. Quyền khởi kiện vụ án dân sự - Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. - Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách. 3. Phạm vi khởi kiện - Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án. - Nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể cùng khởi kiện một cá nhân, một cơ quan, một tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án. - Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền do Bộ luật này quy định có thể khởi kiện đối với một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án. III. THỜI HIỆU KHỞI KIỆN (Điều 159 Bộ Luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011) 1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì thực hiện như sau: + Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện; + Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là 02 năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. 2. Một số thời hiệu khởi kiện cụ thể: - Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự: 02 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (Điều 427 BLDS); - Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại: 02 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (Điều 607 BLDS); - Thời hiệu khởi kiện về thừa kế (Điều 645 BLDS): + Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế; + Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế; IV. HỒ SƠ KHỞI KIỆN Hồ sơ khởi kiện tại Tòa án bao gồm: - Đơn khởi kiện (theo mẫu); - Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp (ví dụ: hồ sơ nhà đất, hợp đồng vay nợ, giấy vay nợ, di chúc…); - Chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu gia đình (có chứng thực hoặc công chứng), nếu người khởi kiện là cá nhân; - Hồ sơ pháp lý khác của người khởi kiện, đương sự khác như: giấy phép kinh doanh, giấy chứng đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập doanh nghiệp, điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp (bản sao có chứng thực), nếu là pháp nhân; - Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (ghi rõ số lượng bản chính, bản sao); * Lưu ý : Các tài liệu nêu trên bằng tiếng nước ngoài thì phải dịch sang tiếng Việt nam theo quy định trước khi nộp và nộp kèm theo bản gốc để đối chiếu. V. TÒA ÁN NƠI NỘP ĐƠN KHỞI KIỆN 1. Thẩm quyền Tòa án theo cấp: - Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp nêu tại Điều 25 BLTTDS, trừ trường hợp những tranh chấp mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài. - Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp dân sự nêu tại Điều 25 BLTTDS mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài. Hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện mà Tòa án cấp tỉnh lấy lên để giải quyết. 2. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ - Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức; - Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp dân sự; - Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản. 3. Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn: Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự trong các trường hợp sau đây: - Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết; - Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết; - Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết; - Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết; - Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết; - Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết; - Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết. * Chú ý : Điều 32a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự (năm 2011) còn quy định thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức như sau: “1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. Trong trường hợp này, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng. *2. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt bị yêu cầu hủy quy định tại khoản 1 Điều này, thì quyết định cá biệt đó được Tòa án xem xét trong cùng vụ việc dân sự. Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự đó được xác định theo quy định tại Điều 29 và Điều 30 của Luật tố tụng hành chính”. VI. ÁN PHÍ 1. Các loại án phí trong vụ án dân sự bao gồm: a) Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch; b) Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự có giá ngạch; c) Án phí dân sự phúc thẩm. Vụ án dân sự không có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự không phải là một số tiền hoặc không thể xác định được giá trị bằng một số tiền cụ thể. Vụ án dân sự có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự là một số tiền hoặc là tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể. 2. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm - Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án về tranh chấp dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009. - Trường hợp vụ án có nhiều nguyên đơn mà mỗi nguyên đơn có yêu cầu độc lập thì mỗi nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí theo yêu cầu riêng của mỗi người; nếu các nguyên đơn cùng chung một yêu cầu thì các nguyên đơn phải nộp chung tiền tạm ứng án phí. - Trường hợp vụ án có nhiều bị đơn mà mỗi bị đơn có yêu cầu phản tố độc lập thì mỗi bị đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí theo yêu cầu riêng của mỗi người; nếu các bị đơn cùng chung một yêu cầu phản tố thì các bị đơn phải nộp chung tiền tạm ứng án phí. - Người có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí trong vụ án dân sự không có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng mức án phí dân sự sơ thẩm; trong vụ án dân sự có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết. 3. Thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí. 4. Các trường hợp được miễn, giảm nộp tiền tạm ứng án phí, án phí sơ thẩm: - Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự; - Những trường hợp sau đây được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí: + Cá nhân, hộ gia đình thuộc diện nghèo theo quy định của Chính phủ; + Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. - Trường hợp miễn nộp một phần tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Toà án: + Người có khó khăn về kinh tế được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận, thì được Toà án cho miễn nộp một phần tiền tạm ứng án phí, án phí, tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí Tòa án. - Mức tiền được miễn không được vượt quá 50% mức tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án mà người đó phải nộp. 5. Mức án phí dân sự sơ thẩm a. Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự không có giá ngạch là 200.000 đồng b. Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch: Giá trị tài sản có tranh chấp Mức án phí a) Từ 4.000.000 đồng trở xuống 200.000 đồng b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng 5% giá trị tài sản có tranh chấp c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng 72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng e) Từ trên 4.000.000.000 đồng 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng. VII. THỜI HẠN GIẢI QUYẾT - Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là 4 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì được gia hạn thời gian chuẩn bị xét xử thêm 2 tháng. - Thời hạn mở phiên tòa là 1 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 2 tháng.

zalo

Giải đáp

​Văn phòng Hà Nội​​​

Địa chỉ: LK 88 Ngõ 6 phố Nguyễn Văn Lộc, Phường Hà Đông, thành phố Hà Nội

SĐT: 0822689333 - 0828129666 (LS. Hoàng)

Văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Phòng số 201, số 171 đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh

SĐT: 0857682666 (LS. Phương Linh)

Hãng Luật Barrisco Việt Nam

Văn phòng Hà Nội

LK 88 Ngõ 6 Phố Nguyễn Văn Lộc, Phường Hà Đông TP.Hà Nội

Văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh

Phòng số 201, số 171 đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh

bottom of page