Barrisco Law
Kết quả tìm kiếm
Tìm thấy 55 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống
- Hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về vị trí, vai trò của các chức năng tố tụng hình sự cơ bản
Chức năng tố tụng hình sự cơ bản thực hiện những hướng hoạt động chính, chủ yếu của tố tụng hình sự, bao gồm: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Các chức năng cơ bản đóng vai trò quan trọng, là định hướng và tạo thế cân bằng cho các hoạt động tố tụng hình sự. Do đó, để hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cần xác định rõ vị trí, vai trò của ba chức năng cơ bản này trong tố tụng hình sự. 1. Về các chức năng tố tụng hình sự cơ bản Chức năng tố tụng là những định hướng đặc thù phân định các hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng khác nhau trong những phạm vi nhất định, được coi là một dạng chức năng nhà nước mang tính định hướng, trong đó có sự phân định rõ ràng hoạt động của các chủ thể khác nhau để đạt được mục đích nhất định với những quyền hạn (quyền) và nhiệm vụ (nghĩa vụ) khác nhau. Chức năng tố tụng hình sự bao gồm ba chức năng cơ bản (buộc tội, gỡ tội (bào chữa), xét xử) và các chức năng khác (như kiểm sát việc tuân theo pháp luật, khởi kiện dân sự). Có quan điểm cho rằng, điều tra cũng là một chức năng độc lập, có chủ thể thực hiện và đối tượng, nội dung cụ thể, riêng biệt. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, ngoài việc làm sáng tỏ nội dung vụ án, Cơ quan điều tra cùng Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội. Điều đó có nghĩa là vào thời điểm khởi tố bị can, chức năng buộc tội bắt đầu được thực hiện mà không chờ đến giai đoạn xét xử sơ thẩm. Chúng tôi cho rằng, Cơ quan điều tra khi tiến hành khởi tố bị can là đã thực hiện sự buộc tội và đã áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra. Do đó, Cơ quan điều tra cũng đang thực hiện chức năng buộc tội và điều tra không phải là một chức năng độc lập, mà là một bộ phận cấu thành của chức năng buộc tội. Ngoài ba chức năng tố tụng hình sự cơ bản thì còn các chức năng khác là chức năng độc lập nhưng không cơ bản, đó là: Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật; chức năng khởi kiện dân sự trong các vụ án hình sự. Như vậy, chức năng tố tụng hình sự cơ bản (buộc tội, gỡ tội, xét xử) và không cơ bản (kiểm sát, khởi kiện dân sự) đều cùng tồn tại trong tố tụng hình sự. Chức năng tố tụng hình sự cơ bản là những phương diện hoạt động chủ đạo, có tính chất tiêu biểu, đặc trưng cho hoạt động tố tụng hình sự và không thể thiếu trong tố tụng hình sự; nói cách khác, nó tồn tại trong tất cả các vụ án hình sự, liên quan trực tiếp đến sự xuất hiện, vận động và kết thúc của quá trình tố tụng hình sự. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Chức năng tố tụng hình sự cơ bản là chức năng cơ sở, nền tảng trong tố tụng hình sự, thể hiện những phương diện hoạt động chính và chủ yếu (không thể thiếu) của các chủ thể nhất định trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Các chức năng tố tụng hình sự cơ bản có những đặc điểm chính sau: Thứ nhất, các chức năng tố tụng hình sự cơ bản là những chức năng nền tảng, cơ sở, không thể thiếu của tố tụng hình sự. Các chức năng trong tố tụng hình sự là một trong những yếu tố hợp thành của tố tụng hình sự và giữ vị trí “xương sống” trong định hướng hoạt động của tố tụng hình sự. Ba chức năng tố tụng hình sự cơ bản là buộc tội, bào chữa và xét xử liên quan đến ba hướng hoạt động chính và chủ yếu của các chủ thể trong tố tụng hình sự. Khi bắt đầu có tội phạm xảy ra, xâm hại đến các lợi ích của xã hội và con người được Nhà nước bảo vệ thì xuất hiện nhu cầu buộc tội đối với người đó. Cũng từ đây xuất hiện nhu cầu bào chữa để bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội. Lúc này, hình thành bên thứ ba nhằm phân xử, đảm bảo sự công bằng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Thứ hai, về chủ thể thực hiện các chức năng tố tụng hình sự cơ bản. Mỗi chức năng tố tụng hình sự cơ bản có thể do một chủ thể hoặc một nhóm chủ thể tham gia thực hiện. Vấn đề đặt ra là: Việc phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể như thế nào để phù hợp với định hướng chủ yếu của hoạt động tố tụng nói chung, mà không phải là chức năng riêng biệt của chủ thể hay những hành vi tố tụng của các chủ thể? Bởi vì, chức năng tố tụng không đồng nhất với hành vi tố tụng của các chủ thể. Chức năng tố tụng hình sự cơ bản là chức năng chung, bao trùm, còn chức năng của chủ thể thực hiện là các chức năng riêng biệt của các chủ thể đó. Do đó, ngoài việc thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của mình, mỗi chủ thể còn phải phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự là yêu cầu và định hướng của chức năng tố tụng đặt ra. Theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, chủ thể thực hiện chức năng buộc tội là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; chủ thể của chức năng bào chữa gồm có người bào chữa, người bị buộc tội tự bào chữa; chủ thể của chức năng xét xử là Tòa án. Thứ ba, về phạm vi của các chức năng tố tụng hình sự cơ bản. Chức năng buộc tội xuất hiện khi có một người bị các cơ quan có thẩm quyền tố tụng buộc tội và kết thúc khi việc chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát hoặc người bị hại đã được Tòa án chấp nhận hoặc bác bỏ bằng hình thức bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Có quan điểm cho rằng, chức năng buộc tội xuất hiện từ khi cơ quan có thẩm quyền khởi tố bị can, hoặc từ thời điểm có người bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ; chức năng buộc tội sẽ kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, quan điểm về thời điểm xuất hiện chức năng buộc tội như trên là hẹp hơn so với quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, bởi người bị buộc tội bao gồm cả người bị bắt, bị can, bị cáo. Điều đó có nghĩa là chức năng buộc tội đã xuất hiện ngay từ thời điểm một người bị bắt quả tang, bị bắt theo lệnh truy nã, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, mà không chỉ là người bị giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự trước đây. Phạm vi của chức năng xét xử bắt đầu từ khi Tòa án có thẩm quyền thụ lý hồ sơ và bản cáo trạng từ Viện kiểm sát chuyển sang, kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Phạm vi của chức năng bào chữa được tính từ thời điểm xuất hiện chức năng buộc tội và chấm dứt khi chức năng buộc tội kết thúc. 2. Vị trí, vai trò của các chức năng tố tụng hình sự cơ bản trong tố tụng hình sự Tố tụng hình sự là lĩnh vực hoạt động có những mục đích nhất định, với sự hiện diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật quy định về thẩm quyền, địa vị pháp lý, mối quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng, quyền và nghĩa vụ pháp lý… theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, nhằm xác định các yếu tố về tội phạm và hình phạt. Có thể thấy, bất kỳ một hệ thống tố tụng hình sự nào cũng bao gồm các nhân tố như: Mục đích, nguyên tắc, chức năng của tố tụng hình sự; địa vị pháp lý của chủ thể hoạt động tố tụng hình sự; các giai đoạn tố tụng hình sự… Các nhân tố này hợp thành một hệ thống tố tụng hình sự thống nhất, trong đó mục đích là nhân tố quan trọng nhất, chi phối các yếu tố khác. Chức năng tố tụng hình sự là một bộ phận hợp thành tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, các chức năng tố tụng hình sự cơ bản còn bị chi phối, quyết định bởi các mục đích và nguyên tắc của tố tụng hình sự. Trước hết, chức năng tố tụng hình sự cơ bản quan trọng và không thể thiếu trong tố tụng hình sự, bởi chức năng của tố tụng hình sự là yếu tố hợp thành của tố tụng hình sự, quyết định mô hình tố tụng hình sự. Buộc tội, bào chữa và xét xử là ba chức năng tố tụng hình sự cơ bản có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau và tạo nên sự vận hành ổn định của tố tụng hình sự. Thiếu một trong ba chức năng cơ bản trên thì không thể tạo nên sự vận hành mang tính ổn định của tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, các chức năng tố tụng hình sự cơ bản còn có vị trí quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người. Các chức năng tố tụng hình sự cơ bản đều có mục đích chính là bảo vệ quyền con người. Để quyền con người được thực hiện trên thực tế, pháp luật tố tụng hình sự phải quy định hệ thống các bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện các quyền đó. Sự hình thành và phát triển của các chức năng tố tụng hình sự cơ bản bao gồm các hoạt động tố tụng khác nhau nhưng luôn vận hành trong mối liên hệ, nhằm tạo nên sự ổn định và mang tính “hướng đích” của hệ thống. Những hoạt động chính yếu, cơ bản đóng góp vào việc vận hành ổn định hệ thống tố tụng hình sự được gọi là chức năng tố tụng và nó cần được tiếp cận trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng thể hiện sự đòi hỏi khách quan của nhu cầu được bảo vệ quyền lợi chính đáng của cá nhân người bị buộc tội trước cáo buộc của Nhà nước. Các chức năng tố tụng hình sự cơ bản không chỉ là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc kiểm soát tội phạm, mà còn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. 3. Kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 từ vị trí, vai trò của các chức năng tố tụng hình sự cơ bản trong tố tụng hình sự Thứ nhất, hoàn thiện các nguyên tắc của tố tụng hình sự. Nguyên tắc của tố tụng hình sự là những nguyên tắc cơ bản, chi phối và điều chỉnh các giai đoạn tố tụng hình sự. Hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự không chỉ có ý nghĩa là kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự trong thực tiễn áp dụng, mà còn là tiền đề, căn cứ quan trọng để hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (BLTTHS năm 2015). Để phân định rõ ràng hơn các chức năng tố tụng hình sự, việc nghiên cứu và hoàn thiện nhóm các nguyên tắc là rất cần thiết. Theo đó, cần hoàn thiện một số nguyên tắc cụ thể sau: - Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 15) chưa xác định rõ trách nhiệm chứng minh của từng cơ quan theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà mỗi cơ quan đảm nhiệm. Nếu xét theo chủ thể thực hiện chức năng tố tụng thì mỗi chủ thể có trách nhiệm chứng minh tội phạm ở các mức độ khác nhau. Ví dụ: Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cùng có trách nhiệm phát hiện tội phạm, đưa người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử, hoạt động điều tra là để phục vụ cho hoạt động công tố, nhưng Cơ quan điều tra vẫn có vai trò chủ động, Kiểm sát viên không làm thay nhiệm vụ của Điều tra viên, mà đóng vai trò “dẫn đường” trong việc thu thập chứng cứ, chứng minh sự thật vụ án trong giai đoạn điều tra. Với chức năng xét xử, Tòa án là cơ quan ra phán quyết cuối cùng dựa trên kết quả điều tra, xác minh công khai tại phiên tòa. Phạm vi và hoạt động chứng minh của mỗi chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng là khác nhau, do đó, cần quy định sự khác nhau trong việc chứng minh tội phạm của các chủ thể. - Cần tách Điều 20 thành 02 nguyên tắc độc lập là: Nguyên tắc trách nhiệm thực hành quyền công tố và nguyên tắc trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật, để xác định rõ hai chức năng độc lập này trong hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát. Theo đó, thực hành quyền công tố là một trong những hoạt động của chức năng cơ bản (buộc tội), còn kiểm sát là chức năng tố tụng không cơ bản. Thứ hai, xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của từng chủ thể khi thực hiện chức năng tố tụng. - Đối với các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội: Trong các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, Viện kiểm sát là chủ thể có vị trí quan trọng và thực hiện đồng thời hai chức năng buộc tội và kiểm sát. Do đó, cần quy định rõ ràng và độc lập hơn về nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hiện hai chức năng này của Viện kiểm sát. Theo tác giả, cần sửa đổi, bổ sung Điều 41 và Điều 42 theo hướng: Xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên khi thực hiện chức năng buộc tội và khi thực hiện chức năng gỡ tội; bổ sung các quy định cụ thể nhằm xác định rõ thẩm quyền của Kiểm sát viên sau khi Viện trưởng Viện kiểm sát đã ra quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giải quyết vụ án hình sự. Về kỹ thuật lập pháp, cần tách các quy định về kiểm sát thành một phần hoặc chương riêng, trong đó quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, hoạt động kiểm sát của tất cả các giai đoạn tố tụng. - Cần hoàn thiện một số quyền của người bào chữa, trách nhiệm của các cơ quan và người có thẩm quyền trong việc bảo đảm quyền này như: Quyền được gặp, hỏi và có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can theo Điều 73; quyền gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam và trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền trong việc bảo đảm theo Điều 80; quyền được thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa và đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu thập theo Điều 81; quyền được đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án cũng như trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm cho người bào chữa thực hiện quyền này theo Điều 82. Đây là những quyền cụ thể, quan trọng của người bào chữa để thực hiện hiệu quả chức năng bào chữa nhưng lại đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành. - Đối với chủ thể thực hiện chức năng xét xử: Tòa án cần đảm bảo vị trí là cơ quan xét xử nhưng có vai trò chủ động hơn trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Theo đó, cần bãi bỏ các quy định về thẩm quyền buộc tội hoặc có tính buộc tội của Tòa án (như chứng minh tội phạm, khởi tố vụ án, trả hồ sơ để điều tra bổ sung); sửa đổi quy định về giới hạn xét xử theo hướng: Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố; sửa đổi điều khoản về trình tự xét hỏi theo hướng: Dành phần lớn thời gian xét hỏi và tranh luận cho bên buộc tội và gỡ tội. Tóm lại, Tòa án cần chủ động chứng minh tội phạm thông qua việc tranh tụng giữa Viện kiểm sát với bên bào chữa tại phiên toà và thực hiện vai trò của một trọng tài trong vụ án để ra các phán quyết khách quan, công bằng. PGS.TS. Đỗ Thị Phượng
- Chiêu chiếm đoạt hơn 13 tỷ đồng của chủ hụi
Hoàng Thị Thảo, 36 tuổi, rủ hàng chục người góp tiền chơi hụi, hứa trả lãi cao, sau đó đưa ra nhiều thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt hơn 13 tỷ đồng. Bản án ngày 19/6 của TAND tỉnh Hà Tĩnh tuyên phạt Thảo 20 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo Điều 174 Bộ luật Hình sự; buộc bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho các nạn nhân. Tại tòa, Thảo khóc, nói hối hận, mong được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đi làm khắc phục hậu quả. Theo cáo trạng, Thảo buôn bán nhỏ lẻ ở chợ Voi, xã Kỳ Phong, huyện Kỳ Anh. Năm 2015, bị cáo đứng ra làm chủ, rủ nhiều tiểu thương góp tiền chơi hụi theo hình thức có lãi. Mỗi dây hụi 10 suất tham gia, mỗi người đóng 100.000 đồng một ngày trong thời hạn 10 tháng, một cá nhân có thể đóng nhiều suất. Cuối tháng, ai đóng đủ tiền theo thỏa thuận thì bốc thăm để mua hụi. Thảo ghi chép đầy đủ số người tham gia trong cùng một dây hụi và số tiền thu trong sổ theo dõi. Cuối năm 2019, việc kinh doanh bị thua lỗ, số tiền lãi phải trả cho các dây hụi tăng lên nên bắt đầu thâm hụt vào các khoản mà Thảo đã thu. Đầu năm 2020, khi thâm hụt 2-3 tỷ đồng và mất khả năng thanh toán, Thảo "vẽ" ra thủ đoạn trả lãi cao để người tham gia tin tưởng tiếp tục đóng hụi. Khi có người cần mua hụi, Thảo không có tiền trả nên nói dối "có đối tác khác đã mua với giá cao hơn", hoặc tự viết giá với chênh lệch lớn để họ không mua được. Tháng 1/2023, khi bị nhiều người yêu cầu trả lại tiền, Thảo tuyên bố vỡ nợ. Nhà chức trách cáo buộc, bằng thủ đoạn trên, từ năm 2020-2023, Thảo đã lừa đảo chiếm đoạt hơn 13 tỷ đồng của 65 người.
- Hà Nội dự kiến chi 26.000 tỷ cho công tác phòng cháy chữa cháy
Sau hàng loạt vụ cháy xảy ra trong nửa đầu năm 2024, mới đây UBND Thành phố Hà Nội vừa có tờ trình gửi HĐND thành phố xem xét, thông qua “Đề án nâng cao năng lực và bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC&CNCH) trên địa bàn Thủ đô giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đề án dự kiến khoảng hơn 26.000 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách cấp thành phố khoảng 13.852,67 tỷ đồng, ngân sách cấp huyện khoảng 12.488,78 tỷ đồng. Về lộ trình thực hiện, đề án dự kiến được thực hiện trong 2 giai đoạn: - Giai đoạn 1 (từ nay đến năm 2025) tổ chức phổ biến, quán triệt toàn văn đề án; tập trung triển khai thực hiện các nội dung, nhiệm vụ, giải pháp của đề án đã được phân công cụ thể trong giai đoạn này. sơ bộ kinh phí dự kiến khoảng 10.620,35 tỷ - Giai đoạn 2 (năm 2026 - 2030) thực hiện nội dung, nhiệm vụ, giải pháp của đề án đã được phân công cụ thể trong giai đoạn này và tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ chưa hoàn thành trong giai đoạn đến 2025 (nếu có). Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn tiếp theo. sơ bộ dự kiến kinh phí khoảng 15.721,1 tỷ đồng. UBND TP. Hà Nội cho biết, hiện nay công tác PCCC&CNCH của thành phố vẫn còn một số hạn chế, vẫn còn những vụ cháy gây hậu quả nghiêm trọng về người xảy ra tại nhà ở, nhà ở kết hợp sản xuất kinh doanh và một số loại hình cơ sở khác trong khu dân cư. Trong khi đó, tiến độ xử lý đối với các công trình vi phạm PCCC còn chậm do gặp nhiều bất cập. Ngoài ra, quy hoạch và xây dựng hệ thống cơ sở của hệ lực lượng Cảnh sát PCCC&CNCH còn chưa phù hợp với mô hình, quy định mới… Dự kiến, đề án trên sẽ được xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 17, HĐND TP. Hà Nội được tổ chức từ ngày 1/7- 5/7/2024.
- CON RUỘT KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN THỪA KẾ CỦA CHA MẸ?
Quyền thừa kế tài sản theo quy định của pháp luật Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015, quy định cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người để lại di sản hoàn toàn có quyền chủ động đưa ra những ai có quyền được hưởng di chúc, mỗi người được hưởng bao nhiêu hoặc những ai bị truất quyền hưởng di chúc, dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản… mà không bị phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể khác. Ngoài ra người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào. Nếu một người chết để lại di chúc thì phải thực hiện việc dịch chuyển tài sản đến người có quyền được hưởng di sản thừa kế theo đúng ý chí của người lập di chúc. Việc hưởng di sản thừa kế theo pháp luật chỉ xảy ra nếu không có di chúc, di chúc không hợp pháp và các nguyên do khác phát sinh từ người thừa kế. Các trường hợp dù là con ruột nhưng vẫn không được hưởng thừa kế từ cha mẹ: Căn cứ Điều 621, Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, các trường hợp sau đây không được quyền hưởng di sản thừa kế: - Con trên 18 tuổi có khả năng lao động bị truất quyền thừa kế. Có thể hiểu, truất quyền thừa kế là việc người lập di chúc không muốn để lại di sản thừa kế của mình cho một người nào đó và ý chí này được ghi trong di chúc; Điều này áp dụng khi người lập di chúc quyết định không muốn để lại di sản cho một con ruột nào đó và ý chí này được ghi rõ trong di chúc. - Con trên 18 tuổi, có khả năng lao động, không có tên trong di chúc. Trường hợp này xảy ra khi người ruột không được đề cập trong di chúc của người để lại di sản. - Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó. Những người có hành vi vi phạm đạo đức nghiêm trọng như này sẽ bị loại trừ khỏi quyền hưởng di sản. - Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản. Con ruột không có quyền thừa kế nếu họ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng của mình đối với người để lại di sản. - Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng. hững người có hành vi xâm phạm tính mạng người khác để đạt được lợi ích từ di sản sẽ không được hưởng thừa kế. - Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Các quy định này nhằm mục đích bảo vệ tính công bằng, đảm bảo rằng những người thừa kế là những người có đủ điều kiện và không có hành vi vi phạm pháp luật hoặc đạo đức nghiêm trọng. Việc áp dụng chặt chẽ các quy định này giúp cho việc thừa kế diễn ra một cách minh bạch và công bằng, tránh các tranh chấp pháp lý sau này. Luật sư Barrisco
- Luật Đất Đai 2024: Mở rộng quyền lợi mua đất cho người Việt Kiều
Luật Đất Đai 2024 đã đưa ra những thay đổi quan trọng, mở rộng quyền lợi cho người Việt Kiều trong việc sở hữu và giao dịch đất đai tại Việt Nam. Điều này đánh dấu một bước tiến quan trọng, tạo cơ hội lớn cho cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia vào thị trường bất động sản nội địa một cách tự do và công bằng hơn. Quyền mua đất của Việt Kiều vẫn chỉ hạn chế đối với “người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài” (theo quy định tại Luật Đất Đai 2024). Còn “người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam” hoàn toàn có thể được nhận quyền sử dụng đất, được trực tiếp tham gia giao dịch bất động sản trong nước mà không cần phải nhờ người thân trong nước đứng tên thực hiện giao dịch chuyển nhượng, tránh những mâu thuẫn không đáng có khi nhờ người thân đứng tên hộ. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm 02 đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Quốc Tịch 2008: - Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài: Đây là những cá nhân vẫn còn quốc tịch Việt Nam và hiện đang cư trú ở nước ngoài. - Người gốc Việt Nam sinh sống, cư trú ở nước ngoài: Đây là những cá nhân có gốc Việt Nam nhưng hiện tại đã thôi quốc tịch và cư trú, làm việc tại nước ngoài. Mới đây, Luật Đất đai 2024 sửa đổi đã quy định mở rộng quyền mua đất của người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam. Khoản 3 Điều 4 Luật Đất đai 2024 quy định công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ về quyền sử dụng đất giống như cá nhân trong nước. Vì thế các cá nhân hoàn toàn có thể được trực tiếp tham gia mua bán bất động mà không bị giới hạn về quyền thực hiện giao dịch chuyển nhượng. Bên cạnh quyền mua đất, người gốc Việt định cư ở nước ngoài cũng sẽ được quyền thuê mua nhà ở và nhận quyền sử dụng đất thông qua các dự án phát triển nhà ở. Luật Đất đai 2024 cũng cho phép được quyền thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất khác theo quy định. Cùng với đó, Khoản d Điều 28 Luật Đất đai 2024 cũng quy định người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sẽ được thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê đất. Luật Đất Đai 2024 không chỉ đơn thuần là văn bản pháp luật điều chỉnh về quyền sử dụng đất đai và nhà ở mà còn là một công cụ quan trọng để thu hút đầu tư từ người Việt Kiều trở về đầu tư vào bất động sản tại quê hương. Điều này không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn làm nền tảng cho sự hòa nhập và phát triển bền vững của đất nước. Việc mở rộng quyền lợi mua đất cho người Việt Kiều cũng phản ánh sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước đối với người dân Việt Nam ở nước ngoài, từ đó củng cố và phát triển mối liên kết văn hóa, lịch sử với quê hương. Đây cũng là bước đi quan trọng, mang tính chiến lược để nâng cao uy tín và hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế. Luật sư Barrisco
- Đất không giấy tờ được cấp sổ đỏ
NHỮNG LOẠI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ SẼ ĐƯỢC CẤP SỔ ĐỎ THEO LUẬT ĐẤT ĐAI 2024 Đất không có giấy tờ là gì? Đất không có giấy tờ là đất mà người dân đang sử dụng không có một trong những loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định trong Luật Đất Đai và Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 16, 17 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP. Nghĩa là không có một trong những loại giấy tờ về quyền sử dụng đất dưới đây: - Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính trước ngày 15/10/1993. - Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất. - Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993 được UBND xã, phường, thị trấn (gọi tắt là UBND cấp xã) xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15/10/1993. - Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật. Đất không có giấy tờ có được cấp sổ đỏ? Mặc dù đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất vẫn được cấp Giấy chứng nhận nếu đủ điều kiện theo từng trường hợp cụ thể. Theo quy định tại Điều 138 Luật Đất đai 2024 đã chia ra 03 nhóm được cấp Sổ đỏ, Sổ hồng với đất không có giấy tờ gồm: - Nhóm 1: Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định trước ngày 18/12/1980, nay được Ủy ban nhân dân (UBND) xã nơi có đất xác nhận là không có tranh chấp. Nhóm 2: Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định từ 18/12/1980 đến trước 15/10/1993, nay được UBND xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp. - Nhóm 3: Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định từ 15/10/1993 đến trước 01/7/2014, nay được UBND xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp. Theo đó, có thể thấy Luật Đất đai 2024 quy định chi tiết 03 mốc thời gian sẽ được xét cấp sổ đỏ, sổ hồng gồm: Từ trước 18/12/1980, từ 18/12/1980 - trước 15/10/1993 và từ 15/10/1993 - trước 01/7/2014. Như vậy, Luật Đất đai 2024 đã mở rộng mốc thời gian sử dụng đất không có giấy tờ được cấp Sổ đỏ kéo dài thêm 10 năm. Theo quy định tại khoản 3 Điều 138 Luật Đất đai 2024, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất từ 15/10/1993 - trước 01/7/2014 không có giấy tờ sẽ được cấp Sổ đỏ khi đáp ứng được các điều kiện: - Không vi phạm quy định về pháp luật đất đai. - Không thuộc trường hợp đất được Nhà nước giao không đúng thẩm quyền. - Được UBND xã nơi có đất xác nhận đất không có tranh chấp. Theo quy định tại khoản 1 Điều 118 Luật Đất đai 2024, đất nông nghiệp đã được chuyển đổi thành đất ở hoặc đất phi nông nghiệp trước ngày 01/7/2014 mà không có giấy tờ hoặc hộ khẩu thường trú, hay nằm trong vùng kinh tế khó khăn và được UBND xã xác nhận không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, sẽ được cấp Giấy chứng nhận mà không phải nộp tiền sử dụng đất. Ngoài ra, các hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp ổn định, nếu được UBND xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch, cũng sẽ được cấp Giấy chứng nhận theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. Tuy nhiên, diện tích đất được cấp sẽ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp cho cá nhân theo quy định.
- Các giấy tờ cần có khi khai nhận di sản thừa kế.
Khai nhận di sản thừa kế là gì? Khai nhận di sản thừa kế được hiểu là thủ tục nhằm xác lập quyền tài sản đối với di sản do người chết để lại cho người được hưởng theo quy định pháp luật. Khoản 1 Điều 58 Luật Công chứng 2014 quy định về khai nhận thừa kế như sau: “Người duy nhất được hưởng di sản theo pháp luật hoặc những người cùng được hưởng di sản theo pháp luật nhưng thỏa thuận không phân chia di sản đó có quyền yêu cầu công chứng văn bản khai nhận di sản.” Hồ sơ khai nhận di sản thừa kế gồm những gì? Căn cứ theo quy định tại Điều 63, Điều 58, khoản 2, 3 Điều 57 Luật Công chứng 2014, hồ sơ khai nhận thừa kế theo di chúc cần các giấy tờ sau: - Phiếu yêu cầu công chứng; - Bản sao di chúc nếu thừa kế theo di chúc hoặc giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người yêu cầu công chứng nếu chia thừa kế theo pháp luật; - Giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết; Giấy đăng ký kết hôn của người để lại di sản, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (nếu có); - Các giấy tờ nhân thân (CMND/CCCD/hộ chiếu… của người khai nhận di sản thừa kế); - Các giấy tờ về tài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; các giấy tờ khác về tình trạng, văn bản tặng cho tài sản, thỏa thuận tài sản (nếu có) - Hợp đồng ủy quyền (nếu có) - Một số tài liệu, giấy tờ khác có liên quan Thủ tục công chứng văn bản khai nhận di sản thế nào? Thủ tục công chứng văn bản khai nhận di sản thực hiện như sau: Bước 1: Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, giấy tờ Bước 2: Công chứng Văn bản khai nhận di sản Sau khi nộp đủ hồ sơ, giấy tờ, Công chứng viên sẽ tiến hành xem xét, kiểm tra: - Nếu hồ sơ đầy đủ: Công chứng viên tiếp nhận, thụ lý và ghi vào sổ công chứng; - Nếu hồ sơ chưa đầy đủ: Công chứng viên hướng dẫn và yêu cầu bổ sung; - Nếu hồ sơ không có cơ sở để giải quyết: Công chứng viên giải thích lý do và từ chối tiếp nhận hồ sơ. Bước 3: Niêm yết việc thụ lý Văn bản khai nhận di sản Sau khi hồ sơ được tiếp nhận, tổ chức hành nghề công chứng sẽ tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở của UBND xã nơi người để lại di sản thường trú và nơi có đất (nếu nơi có đất khác nơi thường trú của người này); Sau 15 ngày niêm yết, UBND xã có trách nhiệm xác nhận việc niêm yết. Bước 4: Ký Văn bản khai nhận di sản Sau khi nhận được niêm yết mà không có khiếu nại, tố cáo thì tổ chức hành nghề công chứng thực hiện giải quyết hồ sơ: - Nếu đã có dự thảo Văn bản khai nhận: Công chứng viên kiểm tra các nội dung trong văn bản đảm bảo không có điều khoản vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội… - Nếu chưa có dự thảo: Công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người khai nhận di sản. Sau khi soạn thảo xong, người thừa kế đọc lại nội dung, đồng ý và sẽ được Công chứng viên hướng dẫn ký vào Văn bản khai nhận di sản thừa kế. Bước 5: Ký chứng nhận và trả kết quả Công chứng viên yêu cầu người thừa kế xuất trình bản chính các giấy tờ đã nêu ở trên để đối chiếu trước khi ký xác nhận vào Lời chứng và từng trang của Văn bản khai nhận này. Sau khi ký xong sẽ tiến hành thu phí, thù lao công chứng, các chi phí khác và trả lại bản chính Văn bản khai nhận cho người thừa kế. Luật sư Barrisco
- Diện Tích Đất Trên Sổ Đỏ Khác Với Diện Tích Đất Thực Tế: Nguyên Nhân Và Cách Xử Lý
Trong quá trình sử dụng và quản lý đất đai, không ít trường hợp người dân phát hiện diện tích đất trên sổ đỏ khác với diện tích đất thực tế. Điều này gây ra nhiều phiền toái và khó khăn trong quá trình sử dụng đất. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ nguyên nhân và cách xử lý khi gặp phải tình trạng này theo Luật Đất đai 2024. 1. Nguyên nhân diện tích đất trên sổ đỏ khác với diện tích đất thực tế Sai sót trong quá trình đo đạc Một trong những nguyên nhân phổ biến là sai sót trong quá trình đo đạc ban đầu hoặc trong quá trình lập sổ đỏ. Các thiết bị đo đạc không chính xác hoặc lỗi của người đo đạc có thể dẫn đến sự chênh lệch này. Thay đổi tự nhiên Thay đổi tự nhiên như sạt lở, bồi đắp, thiên tai có thể làm thay đổi diện tích đất thực tế so với thời điểm cấp sổ đỏ. Thay đổi do sử dụng Quá trình sử dụng đất có thể dẫn đến việc thay đổi ranh giới, chẳng hạn như việc xây dựng, mở rộng nhà cửa, hoặc do người dân tự ý điều chỉnh ranh giới mà không thông báo cho cơ quan chức năng. Sự khác biệt do bản đồ địa chính Sự không khớp giữa bản đồ địa chính và thực tế có thể là một nguyên nhân khác gây ra sự chênh lệch diện tích đất. 2. Cách xử lý khi diện tích đất trên sổ đỏ khác với diện tích đất thực tế Theo khoản 6 Điều 135 Luật Đất đai 2024, việc xử lý sự chênh lệch diện tích đất giữa số liệu đo đạc thực tế và số liệu ghi trên sổ đỏ được quy định như sau: Trường hợp ranh giới thửa đất không thay đổi Nếu ranh giới thửa đất không thay đổi so với thời điểm cấp sổ đỏ và không có tranh chấp với các thửa đất liền kề, diện tích đất sẽ được xác định theo số liệu đo đạc thực tế khi cấp hoặc cấp đổi sổ đỏ. Điều này giúp đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất được xác thực và chính xác. Trường hợp ranh giới thửa đất thay đổi Nếu ranh giới thửa đất thay đổi và diện tích đo đạc thực tế lớn hơn diện tích ghi trên sổ đỏ, phần diện tích chênh lệch sẽ được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, người sử dụng đất cần phải cung cấp đầy đủ chứng từ, giấy tờ chứng minh nguồn gốc và tính hợp pháp của phần diện tích tăng thêm. Trường hợp vị trí không chính xác Nếu sổ đỏ đã cấp mà vị trí không chính xác, cơ quan chức năng sẽ rà soát và cấp đổi sổ đỏ cho người sử dụng đất. Việc này nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quản lý đất đai. Để thực hiện thủ tục cấp đổi sổ đỏ theo diện tích đất thực tế, bạn cần tuân thủ các bước sau đây: 1. Chuẩn bị hồ sơ Theo quy định của Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, bạn cần chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp đổi, gồm: - Đơn đề nghị cấp đổi: Đơn này phải được viết theo mẫu số 10/ĐK. - Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp (Sổ đỏ, Sổ hồng): Để xác nhận về diện tích ban đầu và thông tin sở hữu. 2. Nộp hồ sơ đề nghị cấp đổi Có hai cách để nộp hồ sơ đề nghị cấp đổi: - Cách 1: Nộp tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất, nếu địa phương đã thành lập bộ phận một cửa để tiếp nhận thủ tục hành chính. Nếu chưa có bộ phận này, bạn phải nộp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện. - Cách 2: Nếu không nộp tại địa phương có đất, bạn có thể nộp tại bộ phận một cửa cấp huyện thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. 3. Tiếp nhận và xử lý hồ sơ Sau khi nộp hồ sơ, quy trình tiếp nhận và xử lý sẽ được thực hiện như sau: - Tiếp nhận hồ sơ: Cơ quan tiếp nhận hồ sơ sẽ kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ trong vòng tối đa 03 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ. - Yêu cầu bổ sung: Nếu hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa hợp lệ, cơ quan tiếp nhận sẽ thông báo cho người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn chỉnh theo quy định. 4. Giải quyết yêu cầu Sau khi hồ sơ được xác nhận là đầy đủ và hợp lệ, cơ quan chức năng sẽ tiến hành giải quyết yêu cầu cấp đổi sổ đỏ. 5. Trả kết quả Cuối cùng, cơ quan sẽ trả kết quả cho người nộp hồ sơ thông qua việc cấp đổi sổ đỏ mới, đã được điều chỉnh theo diện tích đất thực tế. Luật Barrisco
- Theo luật đất đai 2024 có tất cả bao nhiêu loại đất?
Liên quan tới câu hỏi, Luật sư đất đai thuộc Công ty luật Barrisco Việt Nam trả lời như sau: Tương tự Luật đất đai 2013, hiện nay Luật Đất đai 2024 phân loại đất thành 3 nhóm đất chính gồm: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng cụg thể như sau: - Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất trồng cây hằng năm, gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hằng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất lâm nghiệp, gồm đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất chăn nuôi tập trung; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác. - Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất ở, gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; Đất xây dựng trụ sở cơ quan; Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh (sau đây gọi là đất quốc phòng, an ninh); Đất xây dựng công trình sự nghiệp, gồm: đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục, thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, khí tượng thủy văn, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác hoặc đất xây dựng trụ sở của đơn vị sự nghiệp công lập khác; Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, gồm: đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; Đất sử dụng vào mục đích công cộng, gồm: đất công trình giao thông; đất công trình thủy lợi; đất công trình cấp nước, thoát nước; đất công trình phòng, chống thiên tai; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di sản thiên nhiên; đất công trình xử lý chất thải; đất công trình năng lượng, chiếu sáng công cộng; đất công trình hạ tầng bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin; đất chợ dân sinh, chợ đầu mối; đất khu vui chơi, giải trí công cộng, sinh hoạt cộng đồng; Đất sử dụng cho hoạt động tôn giáo (sau đây gọi là đất tôn giáo); đất sử dụng cho hoạt động tín ngưỡng (sau đây gọi là đất tín ngưỡng); Đất nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa táng; đất cơ sở lưu giữ tro cốt; Đất có mặt nước chuyên dùng; Đất phi nông nghiệp khác. Nhóm đất chưa sử dụng là đất chưa xác định mục đích sử dụng và chưa giao, chưa cho thuê. Có thể thấy mặc dù Luật đất đai 2024 vẫn chia đất làm 3 nhóm chính nhưng vẫn có những thay đổi nhất định về các loại đất cụ thể. Ví dụ: Luật đất đai 2024 bổ sung thêm loại đất chăn nuôi tập trung, điều này cho thấy sự thay đổi trong việc quản lý đất nông nghiệp thay các hộ dân có thể sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng chuồng, trại phục vụ chăn nuôi thay vì phải đăng ký thay đổi quyền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp như quy định tại luật đất đai 2013. Ngoài ra việc gộp chung các loại đất đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất thành đất lâm nghiệp cũng tạo điều kiện linh hoạt trong sử dụng đất rừng. Trên đây câu trả lời cho câu hỏi có tất cả bao nhiêu loại đất của Luật sư đất đai thuộc Hãng Luật Barrisco và đánh giá sơ bộ về một số thay đổi so với luật đất đai 2013. Xin cảm ơn quý độc giả đã quan tâm. Luật Barrisco.
- Không có di chúc, tài sản của người đã chết được chia như thế nào?
Thừa kế là việc chuyển dịch tài sản bao gồm cả quyền sử dụng đất (nếu có) của người đã chết cho người còn sống, tài sản của người chết để lại được gọi là di sản. Người thừa kế gồm có người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật. Khi người mất không có di chúc, di sản thừa kế được áp dụng chia thừa kế theo pháp luật. Những người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật Những người được pháp luật chia di sản theo hàng thừa kế quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 được gọi là thừa kế theo pháp luật, những người ở cùng hàng thừa kế với nhau sẽ được hưởng phần di sản như nhau. Nhưng không phải là di sản chia đều cho hàng thừa kế mà người ở hàng thừa kế đầu không còn ai thừa kế hoặc không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hay từ chối nhận di sản thì hàng tiếp theo sẽ được hưởng thừa kế được quy định cụ thể tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015. Hàng thừa kế cụ thể như sau: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Những người có chung huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng, quan hệ hôn nhân gần nhất gồm có vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Vì sao pháp luật lại cho những người này ở hàng thứ nhất, đơn giản vì nhà làm luật nghĩ rằng người chết có quyền và nghĩa vụ với những người này nhất, họ là những người thân ruột thịt nhất đối với người chết, nếu họ có thể để lại di chúc thì những người này phải được ưu tiên nhất. Hàng thừa kế thứ hai được hưởng thừa kế khi mà những người ở hàng thứ nhất thuộc các trường hợp quy định nêu trên thì hàng thứ hai này sẽ được hưởng di sản bao gồm: ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của người chết; cháu ruột của người để lại di sản mà người chết là ông bà nội hoặc ông bà ngoại. Về mối quan hệ huyết thống với người để lại di sản thì những người thừa kế ở hàng thứ hai này họ có mối quan hệ huyết thống xa hơn hàng thừa kế thứ nhất nhưng đồng thời cũng có mối quan hệ gần gũi nhất với hàng thứ nhất. Hàng thừa kế thứ ba: Khi hàng thừa kế thứ nhất, hàng thừa kế từ hai không có người thừa kế thì hàng thứ ba mới được quyền thừa kế bao gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột,; chắt ruột của người chết mà người để lại di sản là cụ nội, cụ ngoại. Hàng thừa kế này thì quan hệ huyết thống của người chết để lại cho người thừa kế xa hơn nhiều với hàng thừa kế thứ hai và thứ nhất. Hàng thừa kế này cũng bap gồm gần hết quan hệ huyết thống họ hàng của người chết. Ví dụ: Ông A chết không để lại di chúc, ông có tài sản riêng là một một mảnh đất 1000m2, ông có vợ và ba người con là B và C, C có một con là D, C chết trước ông A. Trong trường hợp này phần di sản của ông D sẽ được thừa kế theo pháp luật, vợ và hai người con của ông thuộc hàng thừa kế thứ nhất, họ không từ chối nhận di sản và không thuộc các trường hợp bị truất quyền hưởng phần di sản, không có quyền hưởng di sản thì sẽ được nhận thừa kế phần di sản của ông D ba phần bằng nhau. Tuy nhiên, C chết trước A nên phần di sản mà C được hưởng sẽ do D thừa kế theo pháp luật về thừa kế thế vị. Cách thức phân chia di sản thừa kế theo pháp luật Theo quy định tại Điều 57 Luật Công chứng , những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản. Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế khác. Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó. Trường hợp thừa kế theo pháp luật, thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế. Công chứng viên phải kiểm tra để xác định người để lại di sản đúng là người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và những người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc có căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là không đúng pháp luật thì từ chối yêu cầu công chứng hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định. Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản trước khi thực hiện việc công chứng. Những người thừa kế phải ký tên, điểm chỉ vào văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế trước mặt công chứng viên. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản. Cách thức tiến hành: Bước 1: Chuẩn bị giấy tờ - Phiếu yêu cầu công chứng; - Giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người yêu cầu công chứng; - Giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết… - Dự thảo Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc Văn bản khai nhận di sản thừa kế (nếu có); - Các giấy tờ nhân thân như chứng minh nhân dân, căn cước công dân hoặc hộ chiếu hoặc sổ hộ khẩu, sổ tạm trú… của người thừa kế; - Các giấy tờ về tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng ký xe ô tô… Sau khi nộp đủ giấy tờ, hồ sơ, Công chứng viên sẽ xem xét, kiểm tra. Nếu đầy đủ thì sẽ tiếp nhận, thụ lý và ghi vào sổ công chứng. Ngược lại nếu hồ sơ không đầy đủ thì người thừa kế sẽ được hướng dẫn và yêu cầu bổ sung. Nếu không có cơ sở giải quyết thì giải thích và từ chối tiếp nhận. Bước 2: Niêm yết công khai Việc niêm yết phải được tiến hành tại trụ sở của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản với các nội dung như họ, tên người để lại di sản, người nhận thừa kế, quan hệ giữa người để lại di sản và người thừa kế, danh mục di sản thừa kế… Thời gian niêm yết là 15 ngày. Bước 3: Ký công chứng và trả kết quả Sau khi nhận được kết quả niêm yết không có khiếu nại, tố cáo, tổ chức hành nghề công chứng sẽ hướng dẫn người thừa kế ký Văn bản khai nhận di sản hoặc Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Sau đó, Công chứng viên yêu cầu người thừa kế xuất trình bản chính các giấy tờ, hồ sơ đã nêu ở trên để kiểm tra, đối chiếu trước khi ký xác nhận vào lời chứng và từng trang của văn bản. Khi hoàn tất hồ sơ, tổ chức hành nghề công chứng sẽ tiến hành thu phí, thù lao công chứng và trả lại bản chính của Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc Văn bản khai nhận di sản thừa kế cho người thừa kế. Luat Barrisco
- Tất cả điểm mới của Luật đất đai 2024? (Phần 1).
Luật Đất đai số 31/2024/QH14 đã được Quốc hội thông qua ngày 18/01/2024. Dưới đây là tổng hợp những điểm mới của Luật đất đai 2024 so với Luật đất đai 2013 đã được Luật Braaisco tổng hợp như sau: 1. Bỏ khung giá đất, ban hành Bảng giá đất mới từ 01/01/2026. Luật Đất đai 2024 số 31/2024/QH14 đã bỏ khung giá đất. Đồng thời, tại Điều 159 Luật này quy định, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ công bố Bảng giá đất mới áp dụng từ ngày 01/01/2026. Hằng năm Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh phải trình Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh quyết định điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bảng giá đất để công bố và áp dụng từ ngày 01/01 năm sau. Như vậy sẽ có Bảng giá đất mới từ ngày 01/01/2026 và Bảng giá đất sẽ được ban hành theo từng năm (nếu có điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung) thay vì định kỳ 05 năm/lần như quy định hiện hành tại Điều 114 Luật Đất đai năm 2013. Bảng giá đất hiện hành sẽ tiếp tục được áp dụng đến hết ngày 31/12/2025, trong trường hợp cần thiết, các tỉnh, thành phố có thể điều chỉnh Bảng giá đất theo quy định mới cho phù hợp với thực tế giá đất tại địa phương. Bên cạnh đó, Luật Đất đai 2024 nhấn mạnh, việc xác định giá đất phải đảm bảo nguyên tắc thị trường thay vì căn cứ vào giá đất tối thiểu - tối đa của khung giá đất do Chính phủ ban hành như hiện nay. Bảng giá đất mới được áp dụng trong các trường hợp sau: Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân; chuyển mục đích sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân; Tính tiền thuê đất khi Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm, trừ trường hợp cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất; Tính thuế sử dụng đất; Tính thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; Tính lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai; Tính tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Tính tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý, sử dụng đất đai; Làm căn cứ tính giá trị quyền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền sử dụng đất, đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; Tính giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với trường hợp thửa đất, khu đất đã được đầu tư hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch chi tiết xây dựng; Tính tiền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân; Tính tiền sử dụng đất đối với trường hợp bán nhà ở thuộc tài sản công. Bảng giá đất mới sẽ được xây dựng theo từng thửa đất trên cơ sở vùng giá trị, thửa đất chuẩn nếu khu vực đó có bản đồ địa chính số và cơ sở dữ liệu giá đất. 2. Đất không có giấy tờ trước ngày 01/7/2014 được cấp Sổ đỏ. Khoản 3 Điều 138 Luật Đất đai 2024 quy định, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ 15/10/1993 - trước 01/7/2014 không có giấy tờ về quyền sử dụng đất sẽ được cấp Sổ đỏ nếu đáp ứng các điều kiện sau: Không vi phạm pháp luật về đất đai; Không thuộc trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền; Nay được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận là không có tranh chấp. Theo đó, Luật Đất đai 2024 đã mở rộng mốc thời gian sử dụng đất không có giấy tờ được cấp Sổ đỏ thêm 10 năm (từ 01/7/2004 thành 01/7/2014). Đồng nghĩa với việc, từ năm 2025, đất không có giấy tờ sử dụng trước 01/7/2014 tăng cơ hội được cấp Sổ đỏ. 3. Đất cấp sai thẩm quyền sau 2014 sẽ được cấp Sổ đỏ. Đất được giao không đúng thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân từ ngày 01/7/2014 - trước ngày 01/01/2025 đáp ứng các điều sau theo quy định tại khoản 4 Điều 140 Luật Đất đai 2024 thì được cấp Sổ đỏ: Nay được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp; Phù hợp với quy hoạch sử dụng đất; Người sử dụng đất có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất. Từ năm 2025 - khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, đất cấp sai thẩm quyền sau ngày 01/7/2014 - trước ngày 01/01/2025 sẽ được cấp Sổ đỏ nếu đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên. 4. 32 trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội. Điều 79 Luật Đất đai 2024 quy định chi tiết 32 trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong đó có thể kể đến: 4.1. Xây dựng công trình giao thông: Đường ô tô cao tốc, đường ô tô, đường trong đô thị, đường nông thôn kể cả đường tránh, đường cứu nạn và đường trên đồng ruộng phục vụ nhu cầu đi lại chung của mọi người, điểm dừng xe, điểm đón trả khách, trạm thu phí giao thông, công trình kho bãi, nhà để xe ô tô; bến phà, bến xe, trạm dừng nghỉ; Các loại hình đường sắt; nhà ga đường sắt; Các loại cầu, hầm phục vụ giao thông; Công trình đường thủy nội địa, công trình hàng hải; Công trình hàng không; Tuyến cáp treo và nhà ga cáp treo; Cảng cá, cảng cạn; Các công trình trụ sở, văn phòng, cơ sở kinh doanh dịch vụ trong ga, cảng, bến xe; hành lang bảo vệ an toàn công trình giao thông mà phải thu hồi đất để lưu không; Các kết cấu khác phục vụ giao thông vận tải. 4.2. Xây dựng công trình thủy lợi: Đê điều, kè, cống, đập, tràn xả lũ, hồ chứa nước, đường hầm thủy công, hệ thống cấp nước, thoát nước, tưới nước, tiêu nước kể cả hành lang bảo vệ công trình thủy lợi mà phải sử dụng đất; Công trình thủy lợi đầu mối kể cả nhà làm việc, nhà kho, cơ sở sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng công trình thủy lợi thuộc phạm vi công trình thủy lợi. 4.3. Xây dựng công trình cấp nước, thoát nước: Nhà máy nước; Trạm bơm nước; Bể, tháp chứa nước; Tuyến ống cấp nước, thoát nước; Hồ điều hòa; Công trình xử lý nước, bùn, bùn cặn kể cả nhà làm việc, nhà kho, cơ sở sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng công trình cấp nước, thoát nước. Quy định cụ thể 32 trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội (Ảnh minh họa) 4.4. Xây dựng công trình xử lý chất thải rắn: Trạm trung chuyển; Bãi chôn lấp rác; Khu liên hợp xử lý, khu xử lý, cơ sở xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại kể cả nhà làm việc, nhà kho, cơ sở sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng công trình xử lý chất thải rắn. 4.5. Xây dựng chợ dân sinh, chợ đầu mối; 4.6. Xây dựng công trình tín ngưỡng, bao gồm: đình, đền, am, miếu và công trình tín ngưỡng hợp pháp khác… 5. Thêm nhiều trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất Luật Đất đai 2024 đã bổ sung thêm một số trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất từ ngày 01/01/2025 như: Hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi. Sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng nhà xưởng sản xuất Sử dụng đất xây dựng công trình cấp nước sạch và thoát nước, xử lý nước thải tại khu vực đô thị và nông thôn; Đất để làm bãi đỗ xe, xưởng bảo dưỡng phục vụ hoạt động vận tải hành khách công cộng; đất xây dựng công trình trên mặt đất phục vụ cho việc vận hành, khai thác sử dụng công trình ngầm… 6. Đa dạng các hình thức bồi thường cho người dân bị thu hồi đất Bên cạnh hình thức giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi hoặc bằng tiền (trong trường hợp không có đất để bồi thường), Luật Đất đai 2024 đã bổ sung thêm hình thức bồi thường bằng đất khác mục đích sử dụng với loại đất bị thu hồi; Nhà ở. Đặc biệt, ưu tiên người dân được bồi thường bằng đất, bằng nhà ở được lựa chọn bồi thường bằng tiền nếu có nhu cầu. 7. Chỉ được thu hồi đất khi đã bàn giao nhà ở tái định cư Đây là một trong những điểm mới của Luật Đất đai 2024 liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Theo đó, khoản 6 Điều 91 Luật Đất đai 2024 nêu rõ: …Việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và việc bố trí tái định cư phải được hoàn thành trước khi có quyết định thu hồi đất. Khoản 5 Điều này cũng quy định, khu tái định cư phải hoàn thiện các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ theo quy hoạch chi tiết được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Đồng thời phải phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của cộng đồng dân cư nơi có đất thu hồi. Một khu tái định cư có thể bố trí cho một/nhiều dự án. Như vậy, từ ngày 01/01/2025, về nguyên tắc, việc tái định cư phải thực hiện trước mới được thu hồi đất. 8. Bổ sung thêm khoản hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất Ngoài các khoản hỗ trợ như quy định hiện hành, Luật Đất đai 2024 bổ sung thêm các khoản hỗ trợ khác: Hỗ trợ di dời vật nuôi; Hỗ trợ để tháo dỡ, phá dỡ, di dời đối với tài sản gắn liền với đất là phần công trình xây dựng theo giấy phép xây dựng có thời hạn theo pháp luật về xây dựng mà đến thời điểm thu hồi đất giấy phép đã hết thời hạn.
- Thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài
Thời gian giải quyết: Thông thường, thời gian giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài là từ 01 đến 03 tháng từ ngày thụ lý. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp thì thời gian giải quyết có thể sẽ bị kéo dài hơn do các vấn đề liên quan đến ủy thác tư pháp; Các tài liệu khi gửi từ nước ngoài về phải có hợp thức hóa lãnh sự và dịch thuật. 2. Các giấy tờ trong hồ sơ ly hôn có yếu tố nước ngoài cần chuẩn bị bao gồm: Đơn xin ly hôn có yếu tố nước ngoài; Bản sao chứng thực hộ chiếu/CMND/CCCD, hộ khẩu của vợ và chồng; Bản gốc giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, nếu mất giấy chứng nhận kết hôn thì đương sự cần nộp bản sao được xác nhận bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải trình bày chi tiết trong đơn khởi kiện. Tường hợp việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại nước ngoài thì cần làm thủ tục ghi chú kết hôn theo quy định; Bản sao giấy khai sinh của con (nếu có con); Bản sao chứng thực, tài liệu về quyền sở hữu tài sản của vợ và chồng (nếu có tranh chấp); Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh. Hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và thực hiện thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp trước khi nộp đơn xin ly hôn (Nếu vợ, chồng đăng ký kết hôn theo luật pháp nước ngoài nhưng muốn ly hôn tại Việt Nam). Trong trường hợp cả hai vợ, chồng không thực hiện thủ tục ghi chú nhưng vẫn muốn ly hôn thì bắt buộc đơn xin ly hôn phải nêu rõ lý do tại sao không thực hiện thủ tục ghi chú kết hôn. Các tài liệu khi gửi từ nước ngoài về phải có hợp thức hóa lãnh sự và dịch thuật; 3. Mẫu đơn ly hôn.











