Barrisco Law
Kết quả tìm kiếm
Tìm thấy 55 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống
- Đòi nợ như thế nào cho hợp pháp?
Đòi nợ như thế nào cho hợp pháp? Người vay tiền không còn khả năng chi trả thì người thân có phải trả nợ thay hay không? Là những câu hỏi barrisco thường xuyên nhận được trong thời gian gần đây, để giải đáp các thắc mắc chúng tôi có nhận định như sau: Cho vay tiền là một giao dịch dân sự phổ biến, theo đó, bên cho vay giao tiền cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay số tiền đã vay và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Tuy nhiên không phải người vay tiền nào cũng trả tiền đúng hạn theo thỏa thuận, trường hợp này có thể do không đủ khả năng chi trả hoặc người vay cố tình không trả buộc người cho vay phải tìm nhiều cách khác nhau nhằm thu hồi nợ, trong đó có cả những cách bị pháp luật nghiêm cấm như dùng vũ lực đe dọa người vay tiền, tạt sơn vào nhà, nhắn tin khủng bố hay thuê bên thứ 3 để đòi nợ. Thực tế cho thấy, ranh giới giữa đòi nợ hợp pháp và không hợp pháp là rất mong manh, nhiều vụ án hình sự liên quan đến đòi nợ không thành đã xảy ra một phần nguyên nhân xuất phát việc hiểu biết pháp luật chưa đầy đủ và chưa biết cách đòi nợ sao cho hợp tình, hợp lý. Nếu việc cho vay tiền là hợp pháp, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả đầy đủ khoản nợ gốc và lãi còn thiếu. Bước đầu các bên có thể tiếp tục thỏa thuận trên tinh thần thiện chí, tự nguyện để tìm ra hướng giải quyết cho vấn đề, người cho vay có thể tham khảo các hướng giải quyết sau: - Liên lạc trực tiếp: Gặp gỡ trực tiếp người vay tiền để trao đổi về khoản vay và tìm kiếm giải pháp thanh toán. - Gửi thông báo nhắc nhở: Gửi thông báo bằng văn bản (email, tin nhắn, thư) nhắc nhở người vay tiền về khoản vay và thời hạn thanh toán. - Thương lượng phương án thanh toán: Trao đổi với người vay tiền để thống nhất phương án thanh toán phù hợp cho cả hai bên (thời hạn trả nợ, số tiền trả mỗi lần, ...). Trường hợp bên vay tiền cố ý không trả nợ, không hợp tác thương lượng về khoản vay hay có những dấu hiệu bất thường như trốn tránh, rời khỏi nơi cư trú,... thì người cho vay có thể nhờ sự can thiệp của cơ quan công an để bảo vệ quyền lợi của mình. Ngoài ra, bên cho vay có quyền khởi kiện bên vay ra tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Theo Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người cho vay tiền có thể khởi kiện bằng cách gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ về việc cho vay tiền đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây: - Nộp trực tiếp tại Tòa án - Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính; - Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có). + Người khởi kiện phải truy cập vào Cổng thông tin điện tử của Tòa án điền đầy đủ nội dung đơn khởi kiện, ký điện tử và gửi đến Tòa án. + Tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện phải được gửi đến Tòa án qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án. * Lưu ý: - Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người cho vay tiền có thể gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người vay cư trú hoặc làm việc (nơi tạm trú hoặc thường trú). - Một số tài liệu, giấy tờ người cho vay cần phải chuẩn bị cho việc khởi kiện bên cạnh đơn khởi kiện: + Hợp đồng vay tiền, giấy tờ xác nhận việc cho vay theo quy định của pháp luật, tin nhắn, email xác nhận việc cho vay,... + Giấy tờ tùy thân như chứng minh nhân dân, hộ chiếu, căn cước công dân, sổ hộ khẩu… của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan… (Bản sao công chứng) - Các tài liệu, chứng cứ khác,... Người cho vay tiền cần cần hết sức kiềm chế, lựa chọn các biện pháp hợp lý và hợp pháp để đòi nợ, tránh bị rơi vào tình huống đi đòi nợ trái pháp luật, có thể kể đến một số hành vi trái pháp luật khi thực hiện đòi nợ thường thấy như: - Hành hung, đánh đập người vay tiền, hành vi đánh đập người vay tiền có thể bị xử lý với tội danh cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017). Trường hợp xông vào nhà người vay tiền để đòi nợ có thể bị coi là tội phạm xâm phạm chỗ ở của người khác theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 31 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017). - Tạt sơn vào nhà người vay tiền, hành vi này có thể có thể bị xử lý hình sự với tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015. Nếu hành vi tạt sơn chưa đến mức xử lý hình sự, người có hành vi tạt sơn có thể bị phạt hành chính và thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả kèm theo. - Đăng thông tin, hình ảnh người vay tiền lên mạng xã hội để làm nhục, xúc phạm. Pháp luật dân sự có quy định cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. + Hành vi đưa ảnh, thông tin của người vay tiền lên mạng xã hội mà không được sự đồng ý của người đó sẽ bị xử lý hành chính và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017). Như đã phân tích, việc cho vay tiền là giao dịch dân sự, là sự thỏa thuận giữa bên vay và bên cho vay, người thân của bên vay tiền không có nghĩa vụ phải trả nợ thay khi người vay không trả nợ trừ trường hợp hợp người thân của bên vay tiền có cam kết bảo lãnh theo quy định tại Điều 335 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Khi đó, người thân của người vay tiền có nghĩa vụ phải trả nợ thay trong trường hợp người vay tiền không trả nợ hay không còn khả năng chi trả. Đòi nợ như thế nào cho hợp pháp? Những tin nhắn vay tiền, tin nhắn đòi nợ có làm cắn cứ khởi kiện người vay tiền được không? Theo Điều 94 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về nguồn chứng cứ như sau: Nguồn chứng cứ Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây: 1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử. Đồng thời theo quy định tại khoản 3 Điều 95 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau: Xác định chứng cứ 3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Như vậy, những tin nhắn vay tiền, tin nhắn đòi nợ có thể hiện xác nhận số nợ và cam kết thời gian trả của người vay nợ có thể được dùng làm chứng cứ để làm căn cứ khởi kiện. Mẫu đơn khởi kiện người vay tiền không trả gửi Tòa án như thế nào? Đơn khởi kiện người vay tiền không trả có thể được áp dụng theo Mẫu số 23-DS ban hành kèm theo Nghị quyết 01/ 2017/NQ-HĐTP Công ty Luật Barrisco Việt Nam hỗ trợ giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tiền, tranh chấp đất đai, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế .... SĐT: 08226894333 (LS Hoàng).
- Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai
Các dạng tranh chấp đất đai hiện nay bao gồm những gì? Điều kiện khởi kiện tranh chấp đất đai là gì? Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thuộc về cơ quan nào? Thủ tục khởi kiện tranh chấp đất đai gồm những bước nào? Thời hiệu khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai là bao lâu? Án phí khi khởi kiện giải quyết tranh chấp đất đai là bao nhiêu tiền? Bài viết dưới đây, Luật Barrisco sẽ cung cấp đến bạn đầy đủ thông tin về tranh chấp đất đai để bạn có thể tham khảo. ________________________________________ Tổng quan về bài viết "Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai" 1. Các dạng tranh chấp đất đai Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai. Hiện nay, có ba dạng tranh chấp chủ yếu bao gồm: 1.1. Dạng 1: Tranh chấp về quyền sử dụng đất Đây là dạng tranh chấp giữa các bên về việc ai có quyền sử dụng hợp pháp với một mảnh đất nào đó. Dạng tranh chấp này thường gặp dưới các loại tranh chấp như sau: Tranh chấp giữa những người sử dụng chung ranh giới giữa các vùng đất, có thể là tranh chấp ngõ đi hay ranh giới đất liền kề. Tranh chấp đòi lại đất hoặc tài sản gắn liền với đất trong quan hệ thừa kế; quan hệ ly hôn giữa vợ và chồng. Tranh chấp về đòi lại đất, tài sản gắn liền với đất của người thân trong những giai đoạn trước đây mà qua các cuộc điều chỉnh ruộng đất đã được chia cấp cho người khác. Tranh chấp giữa đồng bào dân tộc địa phương với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới; giữa đồng bào địa phương với các nông trường, lâm trường và các tổ chức sử dụng đất khác. 1.2. Dạng 2: Tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất Dạng tranh chấp này thường xảy ra khi các chủ thể có những giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất mà một bên vi phạm, làm cản trở việc thực hiện quyền của bên kia hoặc một bên không làm đúng nghĩa vụ của mình cũng làm phát sinh tranh chấp. Thông thường các loại tranh chấp như sau: Tranh chấp về việc bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. 1.4. Dạng 3: Tranh chấp về mục đích sử dụng đất Nhà nước phân loại đất đai và yêu cầu người quản lý, người sử dụng đất phải tuân thủ đúng mục đích sử dụng đất với thửa đất đó. Tranh chấp về mục đích sử dụng đất phát sinh khi người sử dụng đất sử dụng đất sai mục đích so với khi Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất. ________________________________________ 2. Điều kiện khởi kiện tranh chấp đất đai Pháp luật không có quy định riêng về điều kiện khởi kiện tranh chấp đất đai, tuy nhiên, căn cứ theo Bộ luật Tố tụng dân sự, người khởi kiện cần đáp ứng các điều kiện sau để thực hiện khởi kiện vụ án tranh chấp: Thứ nhất, người khởi kiện có quyền khởi kiện: Pháp luật Tố tụng dân sự có quy định về quyền khởi kiện vụ án như sau: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì thế, việc khởi kiện giải quyết tranh chấp đất đai do người khởi kiện tự thực hiện hoặc thông qua người đại diện hợp pháp. Thứ hai, thuộc thẩm quyền của Toà án theo loại việc: Tranh chấp đất đai theo quy định pháp luật đất đai là một trong những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Toà án. Các tranh chấp liên quan đến đất đai bao gồm: Tranh chấp về giao dịch liên quan tới quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất,…thì áp dụng quy định của pháp luật Dân sự để giải quyết. Thứ ba, tranh chấp chưa được giải quyết: Pháp luật về Tố tụng dân sự quy định Toà án chỉ thụ lý đơn khởi kiện tranh chấp đất đai nếu tranh chấp đó chưa được giải quyết, cụ thể như sau: Tranh chấp đất đai chưa được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực của Tòa án. Chưa được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: Tranh chấp đất đai mà chưa được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện, cấp tỉnh. Thứ tư, phải được hoà giải tại UBND cấp xã: Tranh chấp về việc xác định người có quyền sử dụng đất do đó các bên phải thông qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã. Trường hợp hòa giải tại UBND cấp xã mà không thành thì mới có thể lựa chọn khởi kiện tại Tòa án hoặc yêu cầu UBND cấp huyện giải quyết. ________________________________________ 3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở. Trong trường hợp hoà giải không thành thì có thể gửi đơn khởi kiện Toà án nhân dân cấp huyện nơi có bất động sản tranh chấp. Pháp luật về đất đai có quy định Toà án nhân dân giải quyết các tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất. Trong trường hợp tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; Trong trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. ________________________________________ 4. Thủ tục khởi kiện tranh chấp đất đai Thứ nhất, thủ tục bắt buộc là hoà giải. Căn cứ theo khoản 2, Điều 202, Luật Đất đai 2013 khi mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Sau khi hòa giải tranh chấp đất đai ở UBND cấp xã thì sẽ xảy ra 01 trong 02 trường hợp sau: 4.1. Trường hợp 1: Hòa giải thành Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về hòa giải thành hoặc hòa giải không thành. Biên bản hoà giải được gửi tới các bên tranh chấp, lưu tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có tranh chấp. Nếu có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường. Phòng Tài nguyên và Môi trường trình UBND cấp huyện quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Sổ đỏ cho hộ gia đình, cá nhân. 4.2. Trường hợp 2: Hòa giải không thành Tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai thì chỉ được chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai như sau: 4.2.1. Hình thức 1: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. Sau khi nhận được quyết định giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu của người có thẩm quyền mà các bên hoặc một trong các bên tranh chấp không đồng ý với quyết định giải quyết thì phải gửi đơn đề nghị giải quyết tranh chấp lần hai đến người có thẩm quyền. Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu hoặc không quá 45 ngày đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn mà các bên hoặc một trong các bên tranh chấp không có đơn gửi người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai lần hai thì quyết định giải quyết tranh chấp lần đầu có hiệu lực thi hành. 4.2.2. Hình thức 2: Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự Thông thường, người khởi kiện có thể nộp tại Tòa án nơi có bất động sản đang tranh chấp theo thủ tục tố tụng. Khi khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai, người khởi kiện phải đáp ứng những điều kiện sau: Người khởi kiện có quyền khởi kiện. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo loại việc. Tranh chấp chưa được giải quyết bằng bản án có hiệu lực của Toà án, UBND huyện, tỉnh. Tranh chấp đã được hòa giải tại UBND cấp xã. Sau khi hoà giải không thành thì sẽ chuẩn bị hồ sơ khởi kiện tranh chấp đất đai. Nội dung cụ thể của hồ sơ khởi kiện vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất bao gồm những giấy tờ sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc một trong các giấy tờ theo quy định pháp luật Đất đai; Giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15/10/1993 do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính; Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993 nay được ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng đất trước ngày 15/10/2003; Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất; Bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án; quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành; Các giấy tờ xác nhận của cơ quan có thẩm quyền: Quyết định cấp đất. bản án, quyết định của Tòa án… ( Trong trường hợp chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); Các biên bản giải quyết của cơ quan chức năng… Biên bản hòa giải tại xã, phường. Thứ ba, nộp đơn khởi kiện tranh chấp đất đai bao gồm các hình thức như: Nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc Nộp đơn khởi kiện tới Tòa án qua đường bưu điện và vấn đề nộp tiền tạm ứng án phí. Thứ tư, thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử: Sau khi nhận được đơn khởi kiện tranh chấp đất đai và hồ sơ kèm theo, nếu vụ án đáp ứng được các điều kiện khởi kiện thì thẩm phán được phân công thông báo cho người khởi kiện biết để thực hiện thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí tại cơ quan nhà nước rồi đem biên lai nộp lại cho Tòa án. Sau khi người khởi kiện hoàn thành nghĩa vụ tài chính ban đầu, thẩm phán sẽ ra thông báo thụ lý vụ án và gửi thông báo cho các bên liên quan để biết về việc khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai và thực hiện các thủ tục tố tụng tiếp theo để giải quyết vụ án. Các hoạt động tố tụng sẽ chủ yếu tập trung trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán sẽ tiến hành một số công việc như: Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án; Xác minh, thu thập chứng cứ cần cần thiết phục vụ cho việc giải quyết vụ án và theo yêu cầu của đương sự; Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật. Thủ tục khởi kiện tranh chấp đất đai Thứ năm, mở phiên Toà xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp đất đai. Nếu trong trường hợp các bên không hoà giải được trong quá trình giải quyết tranh chấp cũng như tại phiên họp hoà giải thì Toà án mở phiên toà xét xử. Khi khai mạc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, giải thích quyền nghĩa vụ các đương sự tham gia phiên tòa, giải quyết các yêu cầu thay đổi người tham gia tố tụng, giải quyết việc thay đổi, rút yêu cầu giải quyết vụ án trước khi đi vào nội dung căn bản của phiên toà. Bước tiếp theo là tranh tụng tại phiên tòa: Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án tranh chấp đất đai. Bước cuối trong phiên tòa là nghị án và tuyên án: Chỉ có các thành viên Hội đồng xét xử mới có quyền nghị án dựa trên những tài liệu và chứng cứ được cung cấp. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán chủ toạ phiên toà biểu quyết sau cùng. Hội đồng xét xử sau đó tuyên đọc bản án với sự có mặt của các đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức và cá nhân khởi kiện. Thứ sáu, thủ tục kháng cáo (nếu có): Kháng cáo là hành vi tố tụng sau khi xử sơ thẩm, nếu đương sự không đồng ý với phán quyết của tòa sơ thẩm thì có yêu cầu tòa cấp trên xét xử một lần nữa theo trình tự phúc thẩm. Thủ tục kháng cáo bao gồm: Đầu tiên, chuẩn bị hồ sơ kháng cáo: Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ kháng cáo bao gồm đơn kháng cáo và các tài liệu, chứng cứ liên quan. Đơn kháng cáo bao gồm: Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo; Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo; Kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo; Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo. Thứ hai, trình tự kháng cáo : Trình tự kháng cáo bản án tranh chấp đất đai sơ thẩm theo quy định pháp luật như sau: Bước 1 : Người kháng cáo làm đơn kháng cáo. Bước 2 : Gửi đơn kháng cáo hoặc kháng cáo trực tiếp đến Tòa án xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm. Bước 3: Tòa án tiếp nhận và xử lý đơn: • Tòa án cấp phúc thẩm đã tiếp nhận đơn thì phải gửi đơn kháng cáo đến cho Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử để thực hiện thủ tục theo quy định; • Tòa án cấp sơ thẩm sau khi tiếp nhận được đơn kháng cáo phải tiến hành thủ tục vào sổ tiếp nhận và tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo. Bước 4 : Tòa án chấp nhận đơn kháng cáo hoặc yêu cầu đương sự bổ sung hoặc trả lại đơn kháng cáo nếu có căn cứ theo quy định pháp luật. Thứ bảy, thủ tục chuẩn bị xét xử phúc thẩm: Sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kháng cáo và kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Toà án phúc thẩm phải vào sổ thụ lý, thông báo bằng văn bản cho các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án. Chánh án Toà án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà. Toà đưa ra quyết định tạm đình chỉ xét xử, đình chỉ xét xử hoặc đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Thứ tám, phiên Tòa xét xử phúc thẩm vụ án tranh chấp đất đai: Trường hợp Tòa quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì phiên tòa diễn ra theo đúng thủ tục bao gồm: thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục hỏi các đương sự, thủ tục tranh luận, thủ tục nghị án và tuyên án. Khai mạc phiên tòa phúc thẩm và thủ tục phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định pháp luật. Hỏi về việc kháng cáo: một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm công bố nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo. Tòa án sẽ hỏi nguyên đơn có rút đơn khởi kiện hay không, hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Công nhận sự thỏa thuận của các bên: nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử công nhận thỏa thuận đó và dựa trên đó đưa ra bản án phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm. Trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau thì phiên tòa được tiến hành theo thủ tục gồm phần tranh tụng giữa nguyên đơn, bị đơn. Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm: Trình bày về kháng cáo, hỏi và tranh tụng tại phiên tòa: Trình bày về kháng cáo: Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người kháng cáo có quyền trình bày, người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến. Hỏi và công bố tài liệu, chứng cứ: thủ tục hỏi những người tham gia tố tụng và công bố tài liệu, chứng cứ,… được thực hiện như tại phiên tòa sơ thẩm. Tranh luận: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tranh luận, đối đáp, đương sự có quyền bổ sung ý kiến. Nghị án và tuyên án khi xét xử phúc thẩm: Việc nghị án, trở lại việc hỏi và tranh luận, thời gian nghị án, tuyên án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện như thủ tục xét xử sơ thẩm. ________________________________________ 5. Thời hiệu khởi kiện đất đai Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định. Thời hiệu khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp luật quy định khác. Đối với tranh chấp dân sự mà văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thời hiệu khởi kiện thì áp dụng thời hiệu khởi kiện được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật đó. Từ đó cho thấy: Đối với tranh chấp dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự (hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất) thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Đối với tranh chấp đất đai là di sản thừa kế thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. ________________________________________ 6. Án phí khi khởi kiện giải quyết tranh chấp đất đai Khi khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai, người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí và tuỳ vào kết quả xét xử sẽ biết ai phải chịu án phí. Pháp luật dân sự có quy định khái niệm vụ án dân sự không có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự không là một số tiền hoặc là tài sản không thể xác định được bằng một số tiền cụ thể. Trường hợp không yêu cầu xác định giá trị tài sản mà chỉ yêu cầu xem xét quyền sở hữu mảnh đất thì mức án phí đối với trường hợp vụ án không có giá ngạch là 300.000 đồng. Trong trường hợp có yêu cầu Tòa án xác định giá trị tài sản thì mức án phí được xác định như sau: Từ 6.000.000 đồng trở xuống thì mức án phí phải nộp cho Tòa là 300.000 đồng Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng thì mức án phí là 5% giá trị tài sản có tranh chấp Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng mức án phí là 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng thì mức án phí là 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng Tài sản có giá trị từ 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng thì mức án phí phải nộp là 72.000.000.000.000 đồng thì mức án phí là 112.000.000 đồng + 0.1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng. ________________________________________ 7. Cơ sở pháp lý Luật Đất đai 2024; Luật Tố tụng dân sự 2015; Luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 101/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn Quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi theo Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành; ________________________________________ Trên đây là toàn bộ nội dung hướng dẫn của chúng tôi về khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất. Qua bài viết, chúng tôi hy vọng bạn có thể hiểu rõ hơn về những vấn đề liên quan. Luật Barrisco là công ty có kinh nghiệm không chỉ trong việc tư vấn pháp luật về vấn đề tranh chấp đất đai mà còn có bề dày kinh nghiệm trong vai trò là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng khi gặp phải những vấn đề pháp lý khi góp vốn bằng hình thức này trong phạm vi cả nước. Công Ty Luật TNHH Barrisco Hotline: Luật sư Hoàng 0822689333 Website: https://www.luatbarrisco.com/ Email: Barriscolawfirm@gmail.com Địa chỉ KV phía Bắc : Liền kề 88 Ngõ 6 P.Nguyễn Văn Lộc, Ph.Mộ Lao, Q.Hà Đông, TP.Hà Nội Địa chỉ KV Phía Nam: Phòng 203, số 171 đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Phú, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh.
- Thời gian giải quyết tranh chấp đất đai là bao lâu?
Thời gian giải quyết tranh chấp đất đai phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quá trình giải quyết tranh chấp đất tại địa phương, kết quả hòa giải đối thoại tại tòa án, tính chất của vụ án và quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ. Ngoài ra thời gian cũng phụ thuộc khá nhiều vào thời hạn chuẩn bị xét xử hay thời gian mà Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định cho Tòa án giải quyết vụ án, căn cứ vào tính chất của từng vụ án để xác định thời hạn. Trong thực tiễn thời hạn chuẩn bị xét xử cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015, thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau: - Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; - Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của BLTTDS thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 203. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Lập hồ sơ vụ án; Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác; Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng; Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án; Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Đưa vụ án ra xét xử. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. Tại khoản 3 Điều 14 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS: “Những vụ án có tính chất phức tạp” là những vụ án có nhiều đương sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹ thuật phức tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài… Tuy nhiên, đối với trường hợp cần phải chờ ý kiến của các cơ quan chuyên môn, cần phải chờ kết quả giám định kỹ thuật phức tạp hoặc cần phải chờ kết quả uỷ thác tư pháp mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử (kể cả thời gian gia hạn), thì Thẩm phán có thể ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Như vậy trong trường hợp điều kiện bình thường, không phát sinh sự kiện khách quan hoặc vụ án có tính chất phực tạp, thời gian chuẩn bị xét xử là 4 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Công ty Luật Barrisco Việt Nam hỗ trợ giải quyết tranh chấp đất đai, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế .... SĐT: 08226894333 (LS Hoàng).
- Thủ tục ly hôn đơn phương
(1) Được yêu cầu ly hôn đơn phương trong trường hợp nào? Căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì cá nhân giải quyết yêu cầu ly hôn đơn phương khi thuộc một trong những trường hợp như sau: - Có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình. - Vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. - Vợ/ chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu. - Trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia. Như vậy, nếu thuộc một trong những trường hợp như đã nêu trên thì cá nhân có thể yêu cầu ly hôn đơn phương. (2) Hồ sơ yêu cầu ly hôn đơn phương 2024 Người có nguyện vọng ly hôn đơn phương cần chuẩn bị 01 bộ hồ sơ bao gồm những giấy tờ như sau: - Đơn xin ly hôn đơn phương theo Mẫu 23-DS được ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP . - Bản chính đăng ký kết hôn. - Một trong những giấy tờ có giá trị chứng minh thông tin cư trú của cá nhân như: Thẻ CCCD/CMND, Giấy xác nhận thông tin về cư trú, Giấy thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. - Bản sao CMND/CCCD của cả vợ và chồng. Trường hợp nếu đã có con chung, thì cần bổ sung thêm bản sao giấy khai sinh của con. Nếu có tài sản chung cần phân chia thì cá nhân chuẩn bị thêm những giấy tờ chứng minh tài sản chung của vợ chồng. Bên cạnh đó, nếu cá nhân có chứng cứ chứng minh mình bị người vợ hoặc chồng bạo lực gia đình, không thực hiện nghĩa vụ…cũng cần cung cấp cho Tòa án. (3) T hủ tục ly hôn đơn phương 2024 Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ những giấy tờ như đã nêu tại mục (2), cá nhân thực hiện theo trình tự như sau: Bước 01: Nộp đơn yêu cầu ly hôn đơn phương trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người bị yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, tại đây cũng cần lưu ý trường hợp vụ án ly hôn có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài. Nếu cá nhân thuộc trường hợp này thì nộp đơn đến Tòa án nhân dân cấp tỉnh ( Điều 37 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 ). Bước 02: Sau khi đã tiếp nhận đơn yêu cầu ly hôn đơn phương. Thẩm phán sẽ dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho cá nhân để nộp tiền tạm ứng án phí. Theo đó, trong thời hạn là 07 ngày tính từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí thì cá nhân nộp tiền tạm ứng án phí kèm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí. Nội dung này được quy định tại Điều 195 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 . Bước 03: Theo đó, trong thời hạn là 03 ngày làm việc tính từ ngày thụ lý vụ án, thẩm phán sẽ thông báo thụ lý vụ án bằng văn bản cho nguyên đơn và bị đơn. Đồng thời, phân công thẩm phán thụ lý vụ án. Bước 04: Tại bước này, Tòa án sẽ thực hiện thủ tục hòa giải, có 02 trường hợp như sau: Trường hợp hòa giải thành: Tòa án sẽ lập biên bản và sau 07 ngày nếu các đương sự không thay đổi về ý kiến thì Tòa án ra quyết định công nhận hòa giải thành và quyết định này có hiệu lực ngay và không được kháng cáo kháng nghị. Trường hợp hòa giải không thành: Tòa án lập biên bản sau đó ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bước 05: Sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử các bên sẽ được Tòa án gửi giấy triệu tập và được thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên Tòa sơ thẩm và ban hành bản án giải quyết thủ tục ly hôn đơn phương. Công ty Luật Barrisco Việt Nam hỗ trợ giải quyết ly hôn nhanh, ly hôn có yếu tố nước ngoài, ly hôn có tranh chấp về con chung/tài sản chung.... SĐT: 08226894333
- Mẫu đơn ly hôn
Mẫu đơn ly hôn theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao Ngoài đơn xin ly hôn cần chuẩn bị thêm: Bản chính đăng ký kết hôn. Một trong những giấy tờ có giá trị chứng minh thông tin cư trú của cá nhân như: Thẻ CCCD/CMND, Giấy xác nhận thông tin về cư trú, Giấy thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Bản sao CMND/CCCD của cả vợ và chồng. Trường hợp nếu đã có con chung, thì cần bổ sung thêm bản sao giấy khai sinh của con. Nếu có tài sản chung cần phân chia thì cá nhân chuẩn bị thêm những giấy tờ chứng minh tài sản chung của vợ chồng. Bên cạnh đó, nếu cá nhân có chứng cứ chứng minh mình bị người vợ hoặc chồng bạo lực gia đình, không thực hiện nghĩa vụ…cũng cần cung cấp cho Tòa án. Công ty Luật Barrisco Việt Nam hướng dẫn viết đơn ly hôn, hỗ trợ giải quyết ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương, ly hôn có yếu tố nước ngoài...
- Thủ tục khởi kiện và mẫu đơn khởi kiện dân sự
THỦ TỤC KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ I. NHỮNG TRANH CHẤP DÂN SỰ THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN (Điều 25 Bộ Luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011) 1. Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam. 2. Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản. 3. Tranh chấp về hợp đồng dân sự. 4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp các bên đều có mục đích lợi nhuận. 5. Tranh chấp về thừa kế tài sản. 6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. 7. Tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai. 8. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật. 9. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. 10. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. 11. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. 12. Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định. II. QUYỀN, PHẠM VI KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ 1. Người khởi kiện phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự: - Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định. Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. - Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự. - Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác. - Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Toà án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. - Đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Toà án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. - Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Trong trường hợp này, Toà án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng. Đối với những việc khác, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ tại Toà án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. - Đương sự là cơ quan, tổ chức do người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng. 2. Quyền khởi kiện vụ án dân sự - Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. - Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách. 3. Phạm vi khởi kiện - Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án. - Nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể cùng khởi kiện một cá nhân, một cơ quan, một tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án. - Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền do Bộ luật này quy định có thể khởi kiện đối với một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án. III. THỜI HIỆU KHỞI KIỆN (Điều 159 Bộ Luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011) 1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì thực hiện như sau: + Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện; + Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là 02 năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. 2. Một số thời hiệu khởi kiện cụ thể: - Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự: 02 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (Điều 427 BLDS); - Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại: 02 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (Điều 607 BLDS); - Thời hiệu khởi kiện về thừa kế (Điều 645 BLDS): + Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế; + Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế; IV. HỒ SƠ KHỞI KIỆN Hồ sơ khởi kiện tại Tòa án bao gồm: - Đơn khởi kiện (theo mẫu); - Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp (ví dụ: hồ sơ nhà đất, hợp đồng vay nợ, giấy vay nợ, di chúc…); - Chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu gia đình (có chứng thực hoặc công chứng), nếu người khởi kiện là cá nhân; - Hồ sơ pháp lý khác của người khởi kiện, đương sự khác như: giấy phép kinh doanh, giấy chứng đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập doanh nghiệp, điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp (bản sao có chứng thực), nếu là pháp nhân; - Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (ghi rõ số lượng bản chính, bản sao); * Lưu ý : Các tài liệu nêu trên bằng tiếng nước ngoài thì phải dịch sang tiếng Việt nam theo quy định trước khi nộp và nộp kèm theo bản gốc để đối chiếu. V. TÒA ÁN NƠI NỘP ĐƠN KHỞI KIỆN 1. Thẩm quyền Tòa án theo cấp: - Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp nêu tại Điều 25 BLTTDS, trừ trường hợp những tranh chấp mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài. - Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp dân sự nêu tại Điều 25 BLTTDS mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài. Hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện mà Tòa án cấp tỉnh lấy lên để giải quyết. 2. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ - Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức; - Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp dân sự; - Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản. 3. Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn: Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự trong các trường hợp sau đây: - Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết; - Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết; - Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết; - Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết; - Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết; - Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết; - Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết. * Chú ý : Điều 32a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự (năm 2011) còn quy định thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức như sau: “1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. Trong trường hợp này, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng. *2. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt bị yêu cầu hủy quy định tại khoản 1 Điều này, thì quyết định cá biệt đó được Tòa án xem xét trong cùng vụ việc dân sự. Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự đó được xác định theo quy định tại Điều 29 và Điều 30 của Luật tố tụng hành chính”. VI. ÁN PHÍ 1. Các loại án phí trong vụ án dân sự bao gồm: a) Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch; b) Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự có giá ngạch; c) Án phí dân sự phúc thẩm. Vụ án dân sự không có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự không phải là một số tiền hoặc không thể xác định được giá trị bằng một số tiền cụ thể. Vụ án dân sự có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự là một số tiền hoặc là tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể. 2. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm - Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án về tranh chấp dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009. - Trường hợp vụ án có nhiều nguyên đơn mà mỗi nguyên đơn có yêu cầu độc lập thì mỗi nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí theo yêu cầu riêng của mỗi người; nếu các nguyên đơn cùng chung một yêu cầu thì các nguyên đơn phải nộp chung tiền tạm ứng án phí. - Trường hợp vụ án có nhiều bị đơn mà mỗi bị đơn có yêu cầu phản tố độc lập thì mỗi bị đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí theo yêu cầu riêng của mỗi người; nếu các bị đơn cùng chung một yêu cầu phản tố thì các bị đơn phải nộp chung tiền tạm ứng án phí. - Người có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí trong vụ án dân sự không có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng mức án phí dân sự sơ thẩm; trong vụ án dân sự có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết. 3. Thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí. 4. Các trường hợp được miễn, giảm nộp tiền tạm ứng án phí, án phí sơ thẩm: - Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự; - Những trường hợp sau đây được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí: + Cá nhân, hộ gia đình thuộc diện nghèo theo quy định của Chính phủ; + Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. - Trường hợp miễn nộp một phần tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Toà án: + Người có khó khăn về kinh tế được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận, thì được Toà án cho miễn nộp một phần tiền tạm ứng án phí, án phí, tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí Tòa án. - Mức tiền được miễn không được vượt quá 50% mức tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí Tòa án mà người đó phải nộp. 5. Mức án phí dân sự sơ thẩm a. Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự không có giá ngạch là 200.000 đồng b. Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch: Giá trị tài sản có tranh chấp Mức án phí a) Từ 4.000.000 đồng trở xuống 200.000 đồng b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng 5% giá trị tài sản có tranh chấp c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng 72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng e) Từ trên 4.000.000.000 đồng 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng. VII. THỜI HẠN GIẢI QUYẾT - Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là 4 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì được gia hạn thời gian chuẩn bị xét xử thêm 2 tháng. - Thời hạn mở phiên tòa là 1 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 2 tháng.
- Thủ tục ly hôn
Hồ sơ cần chuẩn bị để thực hiện thủ tục ly hôn thuận tình. Theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 , yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, chia tài sản khi ly hôn được xác định là việc dân sự. Do đó, để được Tòa án giải quyết theo thủ tục ly hôn thuận tình thì hai vợ chồng bạn phải chuẩn bị các loại giấy tờ, hồ sơ như sau: - Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; - Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính); - Sổ hộ khẩu (bản sao có chứng thực); - CMND/ Căn cước công dân/hộ chiếu (bản sao có chứng thực); - Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (sổ đỏ); đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao); - Các tài liệu, chứng cứ, giấy tờ chứng minh về khoản nợ, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (bản sao); - Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn và hồ sơ xin ly hôn; - Các giấy tờ, tài liệu khác (nếu có yêu cầu). Thủ tục ly hôn thuận tình được tiến hành như thế nào? Theo quy định của pháp luật hiện hành, thủ tục ly hôn thuận tình của vợ chồng có thể được thực hiện theo trình tự sau: Bước 1: Nộp hồ sơ giải quyết ly hôn Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 : “Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.” Do đó, việc nộp đơn ly hôn ở đâu cũng là một trong những việc hai vợ chồng có thể thỏa thuận. Khi đó, hai người có thể thỏa thuận đến Tòa án nơi cư trú của vợ hoặc của chồng để làm thủ tục. Hồ sơ ly hôn có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường Bưu điện. Bước 2: Nhận thông báo tiếp nhận đơn, thông báo về án phí. Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ, trong thời hạn 03 ngày, Chánh án Tòa án sẽ phân công Thẩm phán giải quyết. Nếu hồ sơ đủ điều kiện, Thẩm phán sẽ ra thông báo về nộp lệ phí và trong vòng 05 ngày, hai vợ chồng phải thực hiện xong. Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí. Căn cứ thông báo của Toà án sẽ tiến hành nộp tiền tạm ứng lệ phí tại Chi cục thi hành án dân sự cấp quận/huyện và nộp lại biên lai nộp tiền cho Tòa án (Nếu TAND cấp tỉnh giải quyết thì nộp tại Cục thi hành án dân sự cấp tỉnh). Bước 4: Tòa án chuẩn bị xét đơn yêu cầu và mở phiên họp công khai để giải quyết việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 01 tháng, kể từ ngày thụ lý. Trong thời gian chuẩn bị này, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp giải quyết và tiến hành mở phiên họp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Khi đó, Thẩm phán sẽ tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, giải thích quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ với con, về trách nhiệm cấp dưỡng… Bước 5: Ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn Trong trường hợp hòa giải thành, vợ chồng sẽ đoàn tụ với nhau thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu ly hôn của hai người. Nếu hòa giải không thành, vợ chồng vẫn muốn ly hôn thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật. Như vậy, trong trường hợp bạn và chồng đều muốn ly hôn thì sẽ cần chuẩn bị những giấy tờ và tiến hành theo thủ tục ly hôn thuận tình như bài viết trên. Công ty Barrisco Việt Nam cung cấp dịch vụ giải quyết ly hôn nhanh, ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương, ly hôn có yếu tố nước ngoài. SĐT: 0822689333
- Tư vấn doanh nghiệp là gì?
Tư vấn doanh nghiệp là dịch vụ giúp giải quyết mọi thắc mắc và cung cấp các giải pháp liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp, quản lý thuế, kế toán, vấn đề pháp lý và nhiều khía cạnh khác. Mục tiêu của tư vấn doanh nghiệp là hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động, phát triển bền vững và thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ với Nhà Nước hoặc hợp thức hóa hồ sơ giải thể của doanh nghiệp. Những năm gần đây, tư vấn doanh nghiệp đã trở thành sự lựa chọn hàng đầu của nhiều doanh nghiệp để nhận sự hỗ trợ và hướng dẫn liên quan đến việc tư vấn thành lập công ty, tư vấn về tài chính, kế toán thuế và xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến các dự án kinh doanh. I- PHẠM VI CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC DOANH NGHIỆP [1] Tư vấn pháp luật. Luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ. Trong đó bao gồm: Tư vấn thành lập, tư vấn loại hình công ty, tư vấn góp vốn, tư vấn tên công ty, trụ sở và các loại giấy phép cần thiết để doanh nghiệp hoạt động đúng quy định.... [2] Đại diện theo ủy quyền. Luật sư nhận ủy quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp để giải quyết các công việc có liên quan đến việc đã nhận theo phạm vi, nội dung được ghi trong Văn bản ủy quyền. [3] Tham gia tố tụng. Luật sư tham gia tố tụng tại Tòa án, Trọng tài với tư cách là người đại diện theo ủy quyền hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp (đương sự) trong vụ việc kinh doanh thương mại, vụ án hành chính. [4] Các công việc khác. Luật sư giúp Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính; giải quyết khiếu nại, thực hiện công việc khác liên quan đến pháp luật theo quy định của pháp luật. II- CÁC CÔNG VIỆC CỤ THỂ TRONG PHẠM VI DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC DOANH NGHIỆP [a] Chủ trì, phối hợp với các bộ phận liên quan tư vấn, giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp trong việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp; xây dựng và ban hành nội quy, quy chế của doanh nghiệp; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. [b] Chủ trì hoặc phối hợp với các tổ chức đoàn thể của doanh nghiệp phổ biến, giáo dục pháp luật, điều lệ, nội quy, quy chế của doanh nghiệp cho người lao động. [c] Chủ trì, phối hợp với các bộ phận liên quan giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, điều lệ, nội quy, quy chế của doanh nghiệp; tổng kết, đánh giá thực trạng hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của người lao động trong doanh nghiệp. [d] Tư vấn hoặc tham mưu việc thuê tư vấn pháp luật đối với các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá rủi ro môi trường đầu tư, kinh doanh đối với các dự án đầu tư của doanh nghiệp ra nước ngoài; có ý kiến về mặt pháp lý đối với các quyết định về tổ chức, quản lý của doanh nghiệp. [đ] Chủ trì hoặc phối hợp với các bộ phận liên quan giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp tham gia giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp; tham gia tố tụng hoặc tham mưu thuê luật sư tham gia tố tụng với tư cách người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. [g] Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp giao. III- TẦM QUAN TRỌNG CỦA DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC DOANH NGHIỆP [1] Là tiền đề cho quản trị doanh nghiệp hiệu quả Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực doanh nghiệp giúp làm tường minh giá trị, triết lý, chuẩn mực của nhà quản trị, điều hành doanh nghiệp. Tiếp theo, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp được hệ thống hoá, chuẩn hóa thành quy định, quy chế, sẽ tiền đề cho việc triển khai chiến lược, kế hoạch kinh doanh hiệu quả. [2] Góp phần nâng cao hiệu quả làm việc Ban hành và áp dụng nghiêm chỉnh quy định, quy chế, hướng dẫn về tổ chức, hoạt động của các phòng, ban, bộ phận tạo ra sự rõ ràng và có hệ thống. Việc phân định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận tạo nên minh bạch, từ đó sẽ thúc đẩy các thành viên ngừng nỗ lực làm việc và cải thiện hiệu quả công việc để đáp ứng mục tiêu đã đề ra. [3] Giảm tranh chấp thương mại Hệ thống quy chế, quy định, quy trình được rà soát và chuẩn hóa giúp các bộ phân liên quan có kiểm soát đầu ra và đầu vào. Điều này cũng giúp doanh nghiệp nhận diện nhà cung cấp, đối tác khách hàng tốt, phù hợp và giảm thiểu tranh chấp pháp sinh, [4] Góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của nhân viên Các hướng dẫn rõ ràng giúp cho bộ máy hoạt động trơn chu, giải quyết tình trạng chồng tréo hay đùn đẩy công việc cho nhau. Khi các thành viên hiểu được tầm quan trọng của công việc mình đang đảm nhận, đặc biệt là vai trò của họ trong sự phát triển chung của doanh nghiệp, họ sẽ cảm thấy có trách nhiệm hơn. [5] Hạn chế tối đa các sai sót trong phát sinh Tất cả nhân viên liên quan đều phải đọc và làm theo những quy trình, hướng dẫn công việc, đặc biệt là trong công việc có độ phức tạp cao và đòi hỏi sự làm việc nhóm của nhiều phòng ban với nhau. Kết quả là, công việc có tính chuẩn hóa cao và tranh được những sai sót cả chủ quan lẫn khách quan. [6[ Nhân sự mới dễ dàng hòa nhập Các hướng dẫn công việc đã được ban hành thành quy trình cụ thể giúp tổ chức doanh nghiệp dễ dàng và tiết kiện được thời gian trong việc đào tạo nhân viên mới. Những người mới làm sẽ ít mắc phải sai sót hơn nhờ vào các quy trình, hướng dẫn xử lý công việc có sẵn. [7] Góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp Khi cân nhắc lựa chọn giữa một doanh nghiệp có tổ chức pháp chế với một doanh nghiệp chưa có tổ chức pháp chế thì khách hàng và đối tác có xu hướng lựa chọn doanh nghiệp có tổ chức pháp chế, bởi trong tiềm thức của họ, đây là đơn vị có phong cách làm việc chuyên nghiệp, tuân thủ pháp luật, do đó sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp ra thị trường chất lượng tốt. [8] Góp phần tăng doanh thu Chỉ cần khách hàng, đối tác biết doanh nghiệp có tổ chức pháp chế, họ có cơ sở cho rằng đây là nhà cung cấp chuyên nghiệp và bài bản. Doanh nghiệp có nhiều lợi thế, cơ hội tiếp cận những khách hàng, đối tác lớn, cơ hội thành công khi tham gia đấu thầu cao hơn. Khách hàng tin tưởng hệ thống quản trị của doanh nghiệp, họ sẽ ưu tiên lựa chọn mua hàng và sử dụng các dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp; khách hàng cũ hài lòng, sẽ tiếp tục mua hàng và sử dụng dịch vụ của công ty cung cấp và sẵn sàng giới thiệu sản phẩm, dịch vụ cho các đối tác của họ. [9] Góp phần tăng lợi nhuận Quy trình, quy chế rõ rang giúp tăng hiệu quả và năng suất làm việc. Đồng thời, các sai sót được hạn hế mức tối đa, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được những khoảng chi phí phát sinh giành cho việc khắc phục những sai lầm đó. Kết quả, lợi nhận vẫn tăng kể cả trong tình huống doanh thu không tăng. Công Ty Luật TNHH Barrisco Hotline: Luật sư Hoàng 0822689333 Website: https://www.luatbarrisco.com/ Email: Barriscolawfirm@gmail.com Địa chỉ: Liền kề 88 Ngõ 6 P.Nguyễn Văn Lộc, Phường Mộ Lao, quận Hà Đông, TP.Hà Nội.
- Cách viết di chúc
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. 1. Hình thức di chúc. Di chúc có thể bằng văn bản hoặc di chúc miệng Di chúc phải được lập thành văn bản tiếng Việt có thể viết tay hoặc đánh máy in trên giấy nhìn được, đọc được. Nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Di chúc bằng văn bản bao gồm 04 loại: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng; Di chúc bằng văn bản có chứng thực. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ. Mẫu di chúc (Cách viết di chúc): 2. Nội dung di chúc Di chúc thế nào được coi là hợp pháp? Theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 , di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện về di chúc hợp pháp được quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng. 3. Hiệu lực của di chúc Di chúc được coi là vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ khi không đáp ứng được các điều kiện của di chúc hợp pháp kể cả về mặt hình thức hay nội dung của di chúc. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 , Toà án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố di chúc vô hiệu. Khi Toà án ban hành Quyết định hoặc Bản án có hiệu lực pháp luật tuyên bố di chúc vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ thì phần nội dung di chúc không bị vô hiệu vẫn có hiệu lực thực hiện, nếu tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì toàn bộ tài sản thừa kế của người chết sẽ được phân chia theo pháp luật cho những người được thừa kế của người để lại di sản thừa kế. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế, tức là khi người lập di chúc chết (Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015). Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp: Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Khoản 2 Điều 643 Bộ luật dân sự quy định rõ về di chúc không có hiệu lực: “2. Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây: a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực. 3. Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực. 4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực. 5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.” Trên đây là nội dung tư vấn về cách viết di chúc và Mẫu di chúc có người làm chứng của Luât Barrisco , nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ: Công Ty Luật TNHH Barrisco Hotline: Luật sư Hoàng 0822689333 Website: https://www.luatbarrisco.com/ Email: Barriscolawfirm@gmail.com Địa chỉ: Liền kề 88 Ngõ 6 P.Nguyễn Văn Lộc, Ph.Mộ Lao, Q.Hà Đông, TP.Hà Nội.
- Chồng không được yêu cầu ly hôn dù vợ có thai với người khác
Hội đồng thẩm phán TAND tối cao vừa ban hành Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP có hiệu lực từ ngày 01/7/2024. Cụ thể, căn cứ khoản 4, Điều 2 Nghị quyết có nội dung: “Trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn, không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai”. Theo đó tại khoản 3, điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 201: "Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi". Khi xảy ra sự kiện trên, người chồng nộp đơn ly hôn đến Tòa án thì Tòa án sẽ trả lại đơn, không thụ lý giải quyết. "Đang có thai" là khoảng thời gian vợ mang trong mình bào thai và được cơ sở y tế có thẩm quyền xác định cho đến thời điểm sinh con hoặc thời điểm đình chỉ thai nghén. "Sinh con" là một trong các trường hợp sau: vợ đã sinh con nhưng không nuôi con trong khoảng thời gian từ khi sinh con đến khi con dưới 12 tháng tuổi; vợ đã sinh con nhưng con chết trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tuổi kể từ khi sinh con; hoặc vợ có thai từ 22 tuần tuổi trở lên mà phải đình chỉ thai nghén. Nghị quyết nêu rõ, chồng không có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con. Trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai. Trường hợp vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt con đẻ, con nuôi. Quy định chồng không được quyền ly hôn khi vợ đang mang thai hoặc sinh con dưới 12 tháng tuổi không phải là mới, đã được quy định từ lâu. Trong số này, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 từng quy định tại điều 85 rằng, "trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn". Đến năm 2014, Luật Hôn nhân và gia đình mới được ban hành, thay thế Luật cũ năm 2000. Tại điều 51, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục quy định "chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi". Có thể thấy, Luật Hôn nhân và gia đình qua các thời kì đã từng quy định việc chồng không được yêu cầu ly hôn khi vợ đang mang thai, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.Tuy nhiên trong quá trình thực hiện pháp luật, vẫn xảy ra những trường hợp mà các Tòa đang không đồng nhất về quan điểm. Vì thế Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP được ban hành để hướng dẫn chi tiết về điều luật đó. Quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe tâm lý và thể chất của người vợ cũng như đứa con chưa chào đời. Thai kỳ là giai đoạn nhạy cảm đối với phụ nữ, đòi hỏi sự ổn định và hỗ trợ từ người chồng để bảo đảm thai nhi phát triển tốt nhất. Nếu chồng đơn phương ly hôn trong giai đoạn này, nó có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến sức khỏe của cả mẹ và con. Thực tế cho thấy rằng không phải người phụ nữ nào cũng có điều kiện kinh tế để tự xoay xở khi mang thai và nuôi con nhỏ. Thậm chí, nếu ly hôn, nhiều người phụ nữ có nguy cơ tay trắng, không nhà cửa, không tài sản… Trong hoàn cảnh rất khó khăn như vậy dễ khiến họ bị dồn vào bước đường cùng. Do vậy, việc không cho phép người chồng có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi nhằm bảo vệ tối đa bà mẹ và trẻ em. Quy định về việc chồng không được ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP không phải là quy định mới và việc có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 chỉ là ngày có hiệu lực của văn bản, chứ không phải là từ ngày 01/7/2024 thì chồng không được ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai còn trước đó thì được.
- Một số điều cần biết về Giám đốc thẩm.
1. Giám đốc thẩm là gì? Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. (Điều 370 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015) 2. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Theo Điều 371 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ: - Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; - Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án; - Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. 3. Thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bao gồm: - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. - Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực. - Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ. (Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015) 4. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm - Việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. - Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ. - Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. - Nếu không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì người có quyền kháng nghị phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị biết rõ lý do của việc không kháng nghị. (Điều 379 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015) 5. Thẩm quyền giám đốc thẩm Thẩm quyền giám đốc thẩm được quy định tại Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau: - Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị. - Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án. Khi xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia, do Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa số thành viên của Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án. - Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực bị kháng nghị. Khi xét xử giám đốc thẩm thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương tham gia, do Chánh án Tòa án quân sự trung ương làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa số thành viên của Ủy ban Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án. - Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương bị kháng nghị. - Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 4 Điều này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án. Khi xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa số thành viên của Hội đồng toàn thể Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Hội đồng toàn thể Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án. - Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.
- 04 luật liên quan đất đai có hiệu lực sẽ khắc phục một số tồn tại
(LSVN) - Theo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Quốc Khánh, bốn Luật gồm: Đất đai, Nhà ở, Kinh doanh bất động sản và Các tổ chức tín dụng có hiệu lực sớm từ 01/8, sẽ tạo hành lang pháp lý, giải quyết tình trạng cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm. Ngày 19/6, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Quốc Khánh thừa ủy quyền của Thủ tướng trình bày Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Các tổ chức tín dụng. Theo đó, Chính phủ đề xuất cho phép 03 luật liên quan tới thị trường bất động sản là Luật Đất đai, Nhà ở và Kinh doanh bất động sản có hiệu lực từ 01/8, sớm 05 tháng so với quyết nghị của Quốc hội. Việc cho phép Luật Đất đai có hiệu lực sớm hơn sẽ khắc phục tồn tại trong định giá đất, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư - vốn là nguyên nhân của tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh, không dám làm, theo nhận định của Chính phủ. Đồng thời, tạo hành lang pháp lý, giải phóng nguồn lực đất đai, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển và đẩy nhanh thực hiện các dự án đầu tư công, nhà ở xã hội. Phía doanh nghiệp, người dân cũng được tạo điều kiện thuận lợi hơn trong thực hiện quyền của người sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi cho người có đất bị thu hồi. Ở góc độ thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh cho biết cơ quan này ủng hộ đề xuất của Chính phủ để các luật trên sớm đi vào cuộc sống. Song, theo cơ quan thẩm tra còn nhiều nội dung cần văn bản hướng dẫn chi tiết do đó đề nghị Chính phủ chuẩn bị kỹ lưỡng, bảo đảm tiến độ, chất lượng các văn bản hướng dẫn chi tiết. Có ý kiến trong cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ tính toán kỹ thời điểm điều chỉnh hiệu lực sớm và thời gian sớm bao nhiêu trên cơ sở xem xét hết sức thận trọng hai khía cạnh. Thứ nhất, tính cấp bách, cấp thiết của việc điều chỉnh thời điểm có hiệu lực của Luật từ ngày 01/8. Thứ hai là mức độ đáp ứng của các điều kiện bảo đảm thi hành Luật trong trường hợp Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8. Một số ý kiến đề nghị cân nhắc kỹ lưỡng việc luật có hiệu lực sớm khi chưa ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết. Có ý kiến đề nghị không điều chỉnh thời gian hiệu lực của các Luật. Cơ quan thẩm tra chỉ ra đến ngày 18/6, mới có 1/16 văn bản quy định chi tiết Luật Đất đai được ban hành; 07 văn bản quy định chi tiết Luật Nhà ở và 04 văn bản quy định chi tiết Luật Kinh doanh bất động sản đều chưa được ban hành do đó ông Thanh đề nghị Chính phủ báo cáo rõ nội dung này. Với các văn bản của địa phương quy định chi tiết nội dung được giao trong các luật, hồ sơ dự án Luật chưa có thông tin cụ thể về tiến độ, khó khăn, vướng mắc (nếu có) trong việc dự thảo và ban hành văn bản cho kịp với thời hạn hiệu lực sớm của 04 Luật. Cũng theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nhận thấy việc sửa đổi hiệu lực của các luật sớm hơn 05 tháng sẽ tạo áp lực rất lớn trong việc bảo đảm tiến độ, chất lượng của các văn bản cần được ban hành, nhất là các văn bản do các địa phương ban hành. Ủy ban Kinh tế của Quốc hội lo ngại trường hợp các địa phương không thể hoàn thành các văn bản hướng dẫn để triển khai thi hành luật do đó đề nghị Chính phủ báo cáo bổ sung về kết quả, tiến độ soạn thảo và ban hành các văn bản của địa phương, đồng thời dự báo khó khăn, vướng mắc, khả năng khiếu kiện của nhà đầu tư, người dân trong trường hợp chậm ban hành hoặc chất lượng văn bản đảm bảo, để có giải pháp phù hợp. NGUYÊN QUÝ












